Gi 8
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
1Đức Chúa Jêsus lên trên núi Ô-li-ve.
1HELE aku la o Iesu i ka mauna o Oliveta.
2Nhưng đến tảng sáng, Ngài trở lại đền thờ; cả dân sự đều đến cùng Ngài, Ngài bèn ngồi dạy dỗ họ.
2A i ka wanaao hoi hou ia i ka luakini, a hele aku la na kanaka a pau io na la; a noho iho la ia, a ao mai la ia lakou.
3Bấy giờ, các thầy thông giáo và các người Pha-ri-si dẫn lại cho Ngài một người đàn bà đã bị bắt đang khi phạm tội tà dâm; họ để người giữa đám đông,
3Alakai aku la na kakauolelo a me na Parisaio io na la i kekahi wahine i loaa e moe kolohe ana; a hooku aku la ia ia iwaena;
4mà nói cùng Đức Chúa Jêsus rằng: Thưa thầy, người đàn bà nầy bị bắt quả tang về tội tà dâm.
4Olelo aku la lakou ia ia, E ke Kumu, ua loaa keia wahine e moe kolohe ana.
5Vả, trong luật pháp Môi-se có truyền cho chúng ta rằng nên ném đá những hạng người như vậy; -còn thầy, thì nghĩ sao?
5Kauoha mai la o Mose ia makou iloko o ke kanawai, e hailukuia i ka pohaku ka mea i hana pela: heaha hoi kau e olelo mai ai?
6Họ nói vậy để thử Ngài, hầu cho có thể kiện Ngài. Nhưng Đức Chúa Jêsus cúi xuống, lấy ngón tay viết trên đất.
6Olelo aku lakou i keia i mea e hoao ai ia ia, i loaa'i ia lakou ka mea e hoahewa aku ai ia ia. Kulou iho la o Iesu ilalo, a kahakaha iho la kona lima ma ka lepo.
7Vì họ cứ hỏi nữa, thì Ngài ngước lên và phán rằng: Ai trong các ngươi là người vô tội, hãy trước nhất ném đá vào người.
7A i ko lakou ninau mau ana'ku ia ia, ea ae la ia iluna, i mai la ia lakou, O ka mea hala ole o oukou, oia mua ke pehi aku ia ia i ka pohaku.
8Rồi Ngài lại cúi xuống cứ viết trên mặt đất.
8Kulou hon iho la ia ilalo, a kahakaha iho la ma ka lepo.
9Khi chúng nghe lời đó, thì kế nhau mà đi ra, những người có tuổi đi trước; Đức Chúa Jêsus ở lại một mình với người đàn bà, người vẫn đang đứng chính giữa đó.
9A lohe ae la lakou, a na hoahewaia lakou e ko lakou lunaikehala, hele pakahi aku la lakou iwaho, mai na lunakahiko ka hoomaka ana, a hiki i ka poe ilalo loa; a koe iho la o Iesu wale no, a me ka wahine e ku ana iwaena.
10Đức Chúa Jêsus bấy giờ lại ngước lên, không thấy ai hết, chỉ có người đàn bà, bèn phán rằng: Hỡi mụ kia, những kẻ cáo ngươi ở đâu? Không ai định tội ngươi sao?
10Ea ae la o Iesu iluna, aohe mea e ae ana i ike ai, o ka wahine wale no, ninau mai la ia ia, E ka wahine, auhea la kela poe i hoopii mai nei ia oe? aole anei kekahi 1 hoopai mai ia oe?
11Người thưa rằng: Lạy Chúa, không ai hết. Đức Chúa Jêsus phán rằng: Ta cũng không định tội ngươi; hãy đi, đừng phạm tội nữa.
11I aku la ia, Aole kekahi, e ka Haku. I mai la o Iesu ia ia, Aole no hoi au e hoopai aku ia oe: e hele oe, mai hana hewa hou aku.
12Đức Chúa Jêsus lại cất tiếng phán cùng chúng rằng: Ta là sự sáng của thế gian; người nào theo ta, chẳng đi trong nơi tối tăm, nhưng có ánh sáng của sự sống.
12Olelo hou mai la o leau ia lakou, i mai la, Owau no ka malamalama o ke ao nei: o ka mea e hahai mai ia'u, aole ia e hele i ka ponli, aka, e loaa ia ia ka malamalama e ola'i.
13Người Pha-ri-si bèn nói rằng: Thầy tự làm chứng về mình, thì lời chứng thầy không đáng tin.
13Nolaila olelo aku la na Parisaio ia ia, Ke hoike nei oe nou iho, aole pono kau hoike ana.
14Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Dẫu ta tự làm chứng về mình, nhưng lời chứng ta là đáng tin, vì ta biết mình đã từ đâu mà đến và đi đâu; song các ngươi không biết ta từ đâu mà đến, cũng chẳng hay ta đi đâu.
14Olelo mai la o Iesu i mai la ia lakou, Ina e hoike aku au no'u iho he pono ka'u hoike ana; no ka mea, ua ike au i ko'u wahi i hele mai ai, a me ko'u wahi e hele aku ai: aka, aole oukou i ike i ko'u wahi i hele mai ai, a me ko'u wahi e hele aku ai.
15Các ngươi xét đoán theo xác thịt; ta thì không xét đoán người nào hết.
15Ke hoahewa nei oukou mamuli o ke kino, aole au e hoahewa aku i kekahi.
16Nếu ta xét đoán ai, sự xét đoán của ta đúng với lẽ thật; vì ta không ở một mình, nhưng Cha là Đấng đã sai ta đến vẫn ở cùng ta.
16Ina e hoahewa aku au, he pono ka'u hoohewa ana; no ka mea, aole owau wale no, aka, o maua me ka Makua nana au i hoouna mai.
17Vả, có chép trong luật pháp của các ngươi rằng lời chứng hai người là đáng tin:
17Ua palapalaia iloko o ko oukou kanawai, he pono ka hoike ana a na kanaka elua.
18ta tự làm chứng cho ta, và Cha là Đấng đã sai ta đến cũng làm chứng cho ta.
18Owau no kekahi e hoike no'u iho, a o ka Makua nana au i hoouna mai, oia kekahi e hoike mai no'u.
19Chúng thưa cùng Ngài rằng: Cha của thầy ở đâu? Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Các ngươi chẳng biết ta, và cũng chẳng biết Cha ta. Nếu các ngươi biết ta, thì cũng biết Cha ta nữa.
19No ia mea ninau aku la lakou ia ia, Auhea kou Makua? I mai la o Iesu, Aole oukou i ike ia'u, aole hoi i ko'u Makua: ina ua ike oukou ia'u, ina ua ike no hoi oukou i ko'u Makua.
20Đức Chúa Jêsus phán mọi lời đó tại nơi Kho, đang khi dạy dỗ trong đền thờ; và không ai tra tay trên Ngài, vì giờ Ngài chưa đến.
20Olelo mai la o Iesu i keia mau olelo ma kahi waihonakala, i kana ao ana iloko o ka luakini; aole hoi kekahi i lalau aku ia ia; no ka mea, aole i hiki mai kona manawa.
21Ngài lại phán cùng chúng rằng: Ta đi, các ngươi sẽ tìm ta, và các ngươi sẽ chết trong tội lỗi mình. Các ngươi không thể đến được nơi ta đi.
21Olelo hou mai la o Iesu ia lakou, E hele aku ana au, a e imi oukou ia'u, a e make oukou iloko o ko oukou hewa: a i ko'u wahi e hele ai, aole e hiki ia oukou ke he le ilaila.
22Người Giu-đa bèn nói rằng: Người đã nói: Các ngươi không thể đến được nơi ta đi, vậy người sẽ tự tử sao?
22Alaila olelo iho la na Iudaio, E pepehi anei kela ia ia iho? no ka mea, i mai la ia, I ko'u wahi e hele ai, aole e hiki ia oukou ke hele ilaila.
23Ngài phán rằng: Các ngươi bởi dưới mà có; còn ta bởi trên mà có. Các ngươi thuộc về thế gian nầy; còn ta không thuộc về thế gian nầy.
23I mai la oia ia lakou, No lalo nei oukou; no luna mai no wau; no ke ao nei oukou; aole wau no ke ao nei.
24Nên ta đã bảo rằng các ngươi sẽ chết trong tội lỗi mình; vì nếu các ngươi chẳng tin ta là Đấng đó, thì chắc sẽ chết trong tội lỗi các ngươi.
24No ia mea i olelo aku ai au ia oukou, E make auanei oukou iloko o ko oukou hewa; no ka mea, a i ole oukou e manao mai, owau no ia, e make no oukou iloko o ko oukou hewa.
25Chúng bèn hỏi Ngài rằng: Vậy thầy là ai? Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Như lời ta đã nói với các ngươi từ ban đầu.
25Nolaila ninau aku la lakou ia ia, Owai oe? I mai la o Iesu ia lakou, Owau no ka mea a'u i hai aku ai ia oukou i kinohi.
26Ta có nhiều sự nói và đoán xét về các ngươi; nhưng Đấng đã sai ta đến là thật, và điều chi ta nghe bởi Ngài, ta truyền lại cho thế gian.
26He nui ka'u mau mea e olelo aku ai, a e hoohewa aku ai ia oukou: aka, o ka mea nana au i hoouna mai ho oiaio ia; a o na mea a'u i lohe ai ia ia, oia ka'u e olelo aku nei i ko ke ao nei.
27Chúng không hiểu rằng Ngài phán về Cha.
27Aole lakou i ike, o ka Makua, kana i olelo mai ai ia lakou.
28Vậy Đức Chúa Jêsus phán rằng: Khi các ngươi treo Con người lên, bấy giờ sẽ biết ta là ai, và biết ta không tự mình làm điều gì, nhưng nói điều Cha ta đã dạy ta.
28No ia hoi, olelo mai la o Iesu ia lakou, Aia kau aku oukou i ke Keiki a ke kanaka iluna, alaila e ike oukou, owau no ia, aole hoi na'u wale iho e hana aku i kekahi mea; aka, o na mea a ko'u Makua i ao mai ai ia'u, oia na mea a'u o olelo aku nei.
29Đấng đã sai ta đến vẫn ở cùng ta, chẳng để ta ở một mình, vì ta hằng làm sự đẹp lòng Ngài.
29A o ka mea nana au i hoouna mai oia pu kekahi me au: aole i waiho wale mai ka Makua ia'u owau wale no; no ka mea, ke hana mau nei au i na mea ana i oluolu ai.
30Bởi Đức Chúa Jêsus nói như vậy, nên có nhiều kẻ tin Ngài.
30I kana olelo ana ia mau mea, nui ka poe i manaoio ia ia.
31Bấy giờ Ngài phán cùng những người Giu-đa đã tin Ngài, rằng: Nếu các ngươi hằng ở trong đạo ta, thì thật là môn đồ ta;
31Alaila olelo mai la o Iesu i ka poe Iudaio i manaoio ia ia, Ina e hoomau oukou ma ka'u olelo, alaila he poe haumana io oukou na'u.
32các ngươi sẽ biết lẽ thật, và lẽ thật sẽ buông tha các ngươi.
32A e ike auanei oukou i ka oiaio, a o ka oiaio e kuu aku ia oukou.
33Người Giu-đa thưa rằng: Chúng tôi là dòng dõi Aùp-ra-ham, chưa hề làm tôi mọi ai, vậy sao thầy nói rằng: Các ngươi sẽ trở nên tự do?
33Olelo aku la lakou ia ia, He mamo makou na Aberahama, aole loa makou i noho pio na kekahi: pehea la kau i olelo mai ai, E kuuia oukou?
34Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, ai phạm tội lỗi là tôi mọi của tội lỗi.
34Olelo mai la Iesu ia lakou, Oiaio, he oiaio ka'u e olelo aku nei ia oukou, o ka mea e hana ana i ka hewa, he kauwa ia na ka hewa.
35Vả, tôi mọi không ở luôn trong nhà, mà con thì ở đó luôn.
35Aole e noho mau loa ke kauwa ma ka hale, aka, o ke Keiki oia ke noho mau loa.
36Vậy nếu Con buông tha các ngươi, các ngươi sẽ thật được tự do.
36Ina na ke Keiki oukou e hoonoho kaawale, alaila e kaawale io oukou.
37Ta biết rằng các ngươi là dòng dõi Aùp-ra-ham, nhưng các ngươi tìm thế để giết ta, vì đạo ta không được chỗ nào ở trong lòng các ngươi.
37Ua ike no au, he mamo oukou na Aberahama; aka, ke imi nei oukou ia'u e pepehi, no ka mea, aole i komo io ka'u olelo iloko o oukou.
38Ta nói điều ta đã thấy nơi Cha ta; còn các ngươi cứ làm điều đã học nơi cha mình.
38Ke olelo aku nei au i ka mea a'u i ike ai i ko'u Makua: a ke hana nei hoi oukou i ka mea a oukou i ike ai i ko oukou makua.
39Chúng trả lời rằng: Cha chúng tôi tức là Aùp-ra-ham, Đức Chúa Jêsus phán rằng: Nếu các ngươi là con Aùp-ra-ham, thì chắc sẽ làm công việc của Aùp-ra-ham.
39Olelo aku la lakou, i aku la ia ia, O Aberahama ko makou makua. I mai la o Iesu ia lakou, Ina he poe keiki oukou na Aberahama, ina ua hana oukou i na hana a Aberahama.
40Nhưng hiện nay, các ngươi tìm mưu giết ta, là người lấy lẽ thật đã nghe nơi Đức Chúa Trời mà nói với các ngươi; Aùp-ra-ham chưa hề làm điều đó!
40Aka, ano ke imi nei oukou e pepehi ia'u, i ke kanaka nana i hai aku ia oukou ka oiaio a'u i lohe ai i ke Akua; aole pela ka Aberahama i hana'i.
41Các ngươi làm công việc của cha mình. Chúng nói rằng: Chúng tôi chẳng phải là con ngoại tình; chúng tôi chỉ có một Cha, là Đức Chúa Trời.
41Ke hana nei oukou i na hana a ko oukou makua. Alaila olelo aku la lakou ia ia, Aole makou i hanauia no ka moe kolohe; hookahi o makou Makua, o ke Akua.
42Đức Chúa Jêsus phán rằng: Ví bằng Đức Chúa Trời là Cha các ngươi, thì các ngươi sẽ yêu ta, vì ta bởi Đức Chúa Trời mà ra và từ Ngài mà đến; bởi chưng ta chẳng phải đã đến tự mình đâu, nhưng ấy chính Ngài đã sai ta đến.
42Olelo mai la o Iesu ia lakou, Ina o ke Akua ko oukou Makua, ina ua aloha mai oukou ia'u; no ka mea, no ke Akua mai au a hele mai nei: aole na'u wale iho i hele mai nei, aka, nana no au i hoouna mai.
43Tại sao các ngươi không hiểu lời ta? Aáy là bởi các ngươi chẳng có thể nghe được đạo của ta.
43No ke aha la i ike ole ai oukou i ka'u olelo? no ka mea, no ka hiki ole ia oukou ke hoolohe i ka'u olelo.
44Các ngươi bởi cha mình, là ma quỉ, mà sanh ra; và các ngươi muốn làm nên sự ưa muốn của cha mình. Vừa lúc ban đầu nó đã là kẻ giết người, chẳng bền giữ được lẽ thật, vì không có lẽ thật trong nó đâu. Khi nó nói dối, thì nói theo tánh riêng mình, vì nó vốn là kẻ nói dối và là cha sự nói dối.
44Na ko oukou makua oukou na ka diabolo, a makemake no oukou e hana i na kuko o ko oukou makua. He pepehi kanaka ia mai ke kumu mai, aole ia i ku ma ka oiaio, no ka mea, aohe oiaio iloko ona. Iua olelo oia i ka wahahee, olelo no oia i kana iho: no ka mea, he wahahee oia, a o ka makua hoi ia no ka wahahee.
45Nhưng vì ta nói lẽ thật, nên các ngươi không tin ta.
45A no ka'u olelo ana'ku i ka oiaio, oia ka mea i manaoio ole mai ai oukou ia'u.
46Trong các ngươi có ai bắt ta thú tội được chăng?... Nếu ta nói lẽ thật, sao các ngươi không tin ta?
46Owai la ka mea o oukou e hoike mai i ko'u hewa? Ina olelo aku au i ka oiaio, no ke aha la oukou i manaoio ole mai ai ia'u?
47Ai ra bởi Đức Chúa Trời, thì nghe lời Đức Chúa Trời; cho nên các ngươi chẳng nghe, tại các ngươi không thuộc về Đức Chúa Trời.
47O ka mea no ke Akua, oia ke hoolohe i ka ke Akua olelo: aole no oukou e hooloho mai, no ka mea, aole no ke Akua oukou.
48Người Giu-đa thưa rằng: Chúng tôi nói thầy là người Sa-ma-ri, và bị quỉ ám, há không phải sao?
48Olelo aku la na Iudaio, i aku la ia ia, Aole anei he pono ke olelo makou, o ka Samaria oe, he daimonio hoi kon?
49Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Ta chẳng phải bị quỉ ám, nhưng ta tôn kính Cha ta, còn các ngươi làm nhục ta.
49Olelo mai la o Iesu, Aole o'u daimonio: aka, ke hoomaikai nei au i ko'u Makua, a ke hoino mai nei oukou ia'u.
50Ta chẳng tìm sự vinh hiển ta, có một Đấng tìm và đoán xét.
50Aole au e imi i ko'u hauohano iho: hookahi no mea nana e imi a e hoopono mai.
51Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, nếu kẻ nào giữ lời ta, sẽ chẳng thấy sự chết bao giờ.
51Oiaio, he oiaio ka'u e olelo aku nei ia oukou, Ina e malama kekahi i ka'u olelo, aole loa ia e ike i ka make.
52Người Giu-đa nói rằng: Bây giờ chúng tôi thấy rõ thầy bị quỉ ám; Aùp-ra-ham đã chết, các đấng tiên tri cũng vậy, mà thầy nói: Nếu kẻ nào giữ lời ta sẽ chẳng hề chết!
52Alaila olelo aku la na Iudaio ia ia, Ano la, ua ike makou, he daimonio kou. Ua make o Aberahama a me na kaula; a ke olelo mai nei oe, Ina e malama kekahi i ka'u olelo, aole loa ia e make.
53Thầy lại trọng hơn cha chúng tôi, Aùp-ra-ham, là người đã chết sao? Các đấng tiên tri cũng đã chết; thầy mạo xưng mình là ai?
53Ua oi aku anei oe mamua o Aberahama, o ko makou kupuna, ka mea i make? a ua make hoi na kaula; owai la oe i kou manao iho?
54Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Nếu ta tự tôn vinh, thì sự vinh hiển ta chẳng ra gì; ấy là Cha ta làm vinh hiển ta, là Đấng các ngươi xưng là Đức Chúa Trời của mình.
54Olelo mai la o Iesu, Ina e hoomaikai au ia'u iho, he mea ole ko'u hoomaikai ana; o ko'u Makua ke hoomaikai mai ia'u, o ka mea a oukou e olelo nei, o ko oukou Akua ia.
55Dầu vậy, các ngươi chưa biết Ngài đâu; còn ta thì biết. Và nếu ta nói rằng ta không biết Ngài, ta sẽ cũng nói dối như các ngươi vậy; song ta biết Ngài, và ta giữ lời Ngài.
55Aole nae oukou i ike ia ia, owau ka i ike ia ia; ina e olelo aku au, aole au i ike ia ia, ina ua like au me oukou, he wahahee: aka, ua ike au ia ia, ke malama no hoi au i kana olelo.
56Cha các ngươi là Aùp-ra-ham đã nức lòng nhìn thấy ngày của ta; người đã thấy rồi, và mừng rỡ.
56Olioli iho la o Aberahama, e ike i ko'u manawa; a ike iho la no ia, a hauoli iho la.
57Người Giu-đa nói rằng: Thầy chưa đầy năm mươi tuổi, mà đã thấy Aùp-ra-ham!
57Olelo aku la na Iudaio ia ia, Aole ou kahalima makahiki, a ua ike anei oe ia Aberahama?
58Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, trước khi chưa có Aùp-ra-ham, đã có ta.
58I aku la o Iesu ia lakou, Oiaio, he oiaio ka'u e olelo aku nei ia oukou, Mamua o ko Aberahama noho ana, Owau no.
59Bấy giờ chúng lấy đá đặng quăng vào Ngài; nhưng Đức Chúa Jêsus đi lén trong chúng, ra khỏi đền thờ.
59Alaila lalau iho la lakou i na pohaku e pehi ia ia: hele malu aku la o Iesu iwaho o ka luakini mawaena o lakou, pela oia i pakele ai.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.