Quan 3
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Nầy là các dân tộc mà Đức Giê-hô-va để còn lại, đặng dùng chúng nó thử thách người Y-sơ-ra-ên nào chưa từng thấy những chiến trận Ca-na-an.
1Kanaan prae ah misatukhaih panoek vai ai Israel kaminawk boih tanoek hanah,
2Ngài chỉ muốn thử thách các dòng dõi mới của dân Y-sơ-ra-ên, tập cho chúng nó việc chiến trận, nhất là những kẻ chưa từng thấy chiến trận khi trước.
2misatuk naah caeh vai ai Israel kaminawk ih a caanawk misatuk amtuk o hanah, Angraeng mah caehtaak ih kaminawk loe,
3Các dân tộc nầy là dân Phi-li-tin cùng năm vua chúng nó, hết thảy dân Ca-na-an, dân Si-đôn, và dân Hê-vít ở tại núi Li-ban, từ núi Ba-anh-Hẹt-môn cho đến cửa Ha-mát.
3Philistin ukkung angraeng pangato, Kanaan kaminawk boih, Sidon kaminawk, Lebanon mae nuiah kaom Hiv kaminawk, Baal-Hermon mae nui hoi Hamath karoek to kaom kaminawk to athum o.
4Đức Giê-hô-va dùng các dân tộc nầy để thử thách Y-sơ-ra-ên, đặng xem thử chúng nó có ý vâng theo các điều răn mà Ngài cậy Môi-se truyền cho tổ phụ chúng nó chăng.
4Angraeng mah Mosi rang hoiah ampanawk khaeah paek ih loknawk to pazui o tih maw, pazui o mak ai, tiah panoek hanah Israel kaminawk to tanoek.
5Như vậy, dân Y-sơ-ra-ên ở chung cùng dân Ca-na-an, dân Hê-tít, dân A-mô-rít, dân Phê-rê-sít, dân Hê-vít, dân Giê-bu-sít,
5Israel kaminawk loe Kanaan kaminawk, Hit kaminawk, Amor kaminawk, Periz kaminawk, Hiv kaminawk hoi Jebus kaminawk salakah khosak o.
6cưới con gái của chúng nó làm vợ, gả con gái mình cho con trai chúng nó, và hầu việc các thần của chúng nó.
6Nihcae ih canu to zu ah lak o moe, angmacae ih canu to nihcae capanawk hanah zu ah a paek o pacoengah, nihcae sithawnawk ih tok to a sak pae o.
7Dân Y-sơ-ra-ên còn làm điều ác trước mặt Đức Giê-hô-va, quên Giê-hô-va Đức Chúa Trời mình, cúng thờ các hình tượng Ba-anh và A-sê-ra.
7Israel kaminawk loe Angraeng mikhnukah kahoih ai hmuen to sak o; angmacae ih Angraeng Sithaw to pahnet o moe, Baal hoi Asherah ih tok to sak pae o.
8Vì vậy, cơn thạnh nộ của Đức Giê-hô-va nổi phừng cùng Y-sơ-ra-ên, Ngài phó chúng vào tay Cu-san-Ri-sa-tha-im, vua nước Mê-sô-bô-ta-mi. Dân Y-sơ-ra-ên bị tám năm phục dịch vua Cu-san-Ri-sa-tha-im.
8To pongah Angraeng palungphuihaih Israel kaminawk nuiah krak moe, nihcae to Mesopotamia siangpahrang Kushan-Rishathaim ban ah a zawh; Israel kaminawk loe anih ban ah saning tazetto thung toksak o.
9Kế ấy, dân Y-sơ-ra-ên kêu la cùng Đức Giê-hô-va; Đức Giê-hô-va bèn dấy lên cho chúng nó một người giải cứu, là Oát-ni-ên, con trai của Kê-na, em thứ của Ca-lép, và người ấy giải cứu họ.
9Toe Angraeng khaeah a hangh o naah loe, nihcae pahlong hanah Angraeng mah Kaleb ih amnawk, Kenaz capa Othniel to pathawk; anih mah nihcae to pahlong.
10Thần của Đức Giê-hô-va cảm động người, người đoán xét Y-sơ-ra-ên, và đi ra chiến trận. Đức Giê-hô-va phó Cu-san-Ri-sa-tha-im, vua A-ram, vào tay người, khiến cho người thắng Cu-san-Ri-sa-tha-im.
10Anih nuiah Angraeng ih Muithla to oh; anih loe Israel kaminawk lokcaekkung ah oh pacoengah, misatukhaih ahmuen ah a caeh. Angraeng mah Mesopotamia siangpahrang Kushan-Arathaim to anih ban ah paek pongah, anih mah to siangpahrang to pazawk.
11Xứ được hòa bình trong bốn mươi năm; kế đó, Oát-ni-ên, con trai Kê-na, qua đời.
11To pongah Kenaz capa Othniel duek karoek to, saning quipalito thung prae thungah monghaih to oh.
12Dân Y-sơ-ra-ên lại làm điều ác trước mặt Đức Giê-hô-va; nên Đức Giê-hô-va khiến Eùc-lôn, vua Mô-áp trở nên cường thạnh để hãm đánh Y-sơ-ra-ên.
12Israel kaminawk mah Angraeng mikhnukah kahoih ai hmuen to sak o let; to tiah nihcae mah Angraeng hmaa ah kahoih ai hmuen to sak o pongah, Angraeng mah Moab siangpahrang Eglon to thacaksak.
13Vậy, Eùc-lôn nhóm hiệp chung quanh mình dân Am-môn và dân A-ma-léc, kéo đi đánh Y-sơ-ra-ên và chiếm lấy thành Cây chà là.
13Eglon mah Ammon hoi Amelek kaminawk to nawnto pakhueng, Israel to a tuk moe, ungsikung kaom vangpui to lak.
14Dân Y-sơ-ra-ên bị phục dịch Eùc-lôn, vua Mô-áp, trong mười tám năm.
14Israel kaminawk loe saning hatlaitazetto thung, Moab siangpahrang Eglon ban thungah toksak o.
15Đoạn, dân Y-sơ-ra-ên kêu la cùng Đức Giê-hô-va, Đức Giê-hô-va dấy lên cho chúng một đấng giải cứu, là Ê-hút, con trai Ghê-ra, thuộc về chi phái Bên-gia-min, là người có tật thuận tay tả. Dân Y-sơ-ra-ên sai người đem lễ cống cho Eùc-lôn, vua Mô-áp.
15Israel kaminawk mah Angraeng khaeah hang o let naah, Angraeng mah banqoi ban patoh thaih, Benjamin acaeng, Gera capa, Ehud to pahlongkung ah paek; Israel kaminawk mah anih to Moab siangpahrang Eglon khaeah tangqum paek hanah patoeh o.
16Ê-hút tự làm lấy một cây gươm hai lưỡi, dài một thước, và đeo theo trong mình áo nơi háng hữu.
16Ehud loe ahnuk ahmaa kanoe, dongto kasawk sumsen to sak moe, kahni thungah ayaw hmoek pacoengah, a bantang phaih nuiah angnaengh.
17Vậy, người đem dâng lễ cống cho Eùc-lôn, vua Mô-áp, là một người rất mập.
17Tangqum to Moab siangpahrang Eglon khaeah paek; anih loe thawk parai.
18Khi dâng lễ cống rồi, bèn cho những kẻ đã đem lễ vật đến đi về.
18Ehud mah tangqum to paek pacoengah, tangqum phaw kaminawk to a caehsak ving.
19Nhưng chính người đến hầm lấy đá ở gần Ghinh-ganh, thì trở lại, nói rằng: Hỡi vua, tôi có một lời tâu kín cùng vua. Vua truyền: Hãy nín! Hết thảy những kẻ hầu cận vua bèn đi ra.
19Anih loe Gilgal vangpui taeng ih thlung lakhaih ahmuen phak naah, amlaem let moe, Aw siangpahrang, nang khaeah tamqulok thuih han ka tawnh, tiah a naa. Siangpahrang mah, To lok to thui hmah raeh! tiah a naa. To naah a taengah kaom kaminawk boih to tasa bangah tacawt o king.
20Bấy giờ, vua đang ngồi một mình nơi lầu mát; Ê-hút đến gần mà nói rằng: Tôi có một lời của Đức Chúa Trời tâu lại với vua. Eùc-lôn vừa đứng dậy khỏi ngai;
20Siangpahrang loe ni nat naah anghnuthaih ahmuen ah angmah bueng anghnut. Ehud mah anih khaeah, Sithaw khae ih lok nang han kang sinh, tiah a naa. Siangpahrang loe anghnuthaih ahmuen hoiah angthawk tahang.
21Ê-hút bèn giơ tay tả ra rút gươm đeo ở phía hữu, mà đâm người nơi bụng.
21To naah Ehud mah, A banqoi ban hoiah a bantang phaih pongah angnaeng ih sumsen to aphongh moe, siangpahrang to zok ah a thunh.
22Cán gươm cũng lút theo lưỡi, mỡ líp lại xung quanh lưỡi gươm; vì người không rút gươm ra khỏi bụng, nó thấu ra sau lưng.
22Sumsen toeng akun boih khoek to a thunh, ahnuk bang khoek to sumsen to pra; a thawk mah padap khoep pongah, sumsen to aphong thai ai.
23Đoạn, Ê-hút lánh ra nơi hiên cửa, đóng các cửa lầu mát lại và gài chốt.
23To pacoengah Ehud loe imhmaa bangah caeh moe, thok khah khoep pacoengah, cabi takraeng thuih caeng.
24Khi Ê-hút đi ra khỏi, các đầy tớ đến xem, thấy các cửa lầu mát đều đóng gài chốt, thì nói với nhau rằng: Hoặc vua đi ngơi trong lầu mát chăng.
24Anih caeh pacoengah, a tamnanawk angzoh o; toe thok khah khoep moe, takraeng ih thok to hnuk o naah, siangpahrang loe ni nat naah angsonghaih ahmuen ah anghak kalang mue, tiah thuih o.
25Chúng đợi rất lâu, đến đỗi hổ thẹn; song vì không thấy vua mở cửa phòng, bèn lấy chìa khóa và mở: kìa thấy chúa mình đã chết, nằm sải trên đất.
25Nihcae loe azatpaw khoek to zing o, anih mah thok paong ai naah loe, cabi to a lak o moe, thok to paong o; khenah, nihcae ih angraeng loe long ah duek sut.
26Trong khi chúng trì hoãn, Ê-hút đã trốn qua khỏi các hầm đá, lánh đến Sê-ri-a.
26Nihcae mah zing o nathung ah Ehud loe loih ving boeh; thlung lakhaih ahmuen ah caeh moe, Seirah avang bang hoiah a loih ving.
27Người vừa đến, bèn thổi kèn lên trong núi Eùp-ra-im; dân Y-sơ-ra-ên đều cùng người xuống khỏi núi và chính người đi ở đầu hết.
27To ahmuen to a phak naah, Ephraim mae nui hoiah mongkah to a uengh; Israel kaminawk loe anih hoi nawnto mae nui hoiah anghumh o tathuk, anih mah nihcae to caeh haih.
28Ê-hút nói cùng chúng rằng: Hãy theo ta, vì Đức Giê-hô-va đã phó vào tay các ngươi dân Mô-áp, là kẻ thù nghịch các ngươi. Chúng đều theo người xuống chiếm cứ các chỗ cạn sông Giô-đanh, là đường đi đến Mô-áp, cấm không cho ai đi qua.
28Ka hnukah bang oh; Angraeng mah na misa Moab kaminawk to nangcae ban ah paek boeh, tiah a naa. To pongah kaminawk loe anih hnukah bang o tathuk moe, Moab prae caehhaih Jordan vapui yaeh ah caeh o, mi kawbaktih doeh vapui angkatsak ai.
29Vậy, trong lúc đó dân Y-sơ-ra-ên đánh giết chừng mười ngàn người Mô-áp, thảy đều là tay mạnh mẽ, can đảm, không một ai thoát khỏi được.
29To nathuem ah thacak Moab misatuh kami sang hato a hum o; kami maeto doeh loih o ai.
30Trong ngày đó, dân Mô-áp bị phục dưới tay Y-sơ-ra-ên; xứ được hòa bình trong tám mươi năm.
30To na niah Moab kaminawk loe Israel kaminawk khaeah angpaek o. To nathuem hoi kamtong saning quitazetto thung prae thungah monghaih to oh.
31Sau Ê-hút, có Sam-ga, con trai của A-nát. Người dùng một cây đót bò mà đánh giết sáu trăm người Phi-li-tin, và cũng giải cứu Y-sơ-ra-ên.
31Ehud pacoengah, Anath capa Shamgar mah doeh, Philistin kami cumvai tarukto tayae toeng hoiah hum; anih mah doeh Israel kaminawk to pahlong.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.