Quan 4
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Sau khi Ê-hút đã qua đời, dân Y-sơ-ra-ên lại làm điều ác trước mặt Đức Giê-hô-va.
1Ehud duek pacoengah, Israel kaminawk loe Angraeng mikhnukah kasae hmuen to sak o let bae.
2Đức Giê-hô-va phó chúng vào tay Gia-bin, là vua Ca-na-an trị vì tại Hát-so. Quan thống lãnh đạo binh người là Si-sê-ra ở tại Ha-rô-sết của dân ngoại bang.
2To pongah nihcae to Angraeng mah, Hazor vangpui ukkung, Kanaan siangpahrang Jabim ban ah zawh; anih ih misatuh angraeng ahmin loe Sisera; anih loe Hagoyim prae Haroseth vangpui ah oh.
3Vua Gia-bin có chín trăm xe sắt và trong hai mươi năm, người hà hiếp dân Y-sơ-ra-ên cách hung bạo; nên Y-sơ-ra-ên kêu cầu cùng Đức Giê-hô-va.
3To siangpahrang loe sum hoi sak ih hrang lakok cumvai takawtto tawnh moe, saning pumphaeto thung Israel kaminawk to kana parai ah uk pongah, Israel caanawk loe Angraeng khaeah tahmen hnikhaih hoiah hang o.
4Trong lúc đó, Đê-bô-ra, là nữ tiên tri, vợ của Láp-bi-đốt, đoán xét dân Y-sơ-ra-ên.
4To naah Lappidoth ih zu, tahmaa nongpata, Deborah mah Israel kaminawk to zaehhoih.
5Bà ở trên núi Eùp-ra-im, giữa khoảng Ra-ma và Bê-tên, dưới cây chà là Đê-bô-ra, và dân Y-sơ-ra-ên lên đến cùng người, đặng nghe sự xét đoán.
5Anih loe Ephraim mae nui ih Ramah hoi Bethel vangpui salakah kaom, Deborah ungsikung tlim ah oh; lokcaek han oh naah Israel kaminawk loe anih khaeah angzoh o.
6Bà sai gọi Ba-rác, con trai A-bi-nô-am, từ Kê-đe trong đất Nép-ta-li, mà nói cùng người rằng: Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên đã truyền lịnh nầy: Hãy chọn đem theo ngươi một vạn người trong con cháu Nép-ta-li và trong con cháu Sa-bu-lôn, mà đi thẳng đến núi Tha-bô.
6Deborah mah kami to patoeh moe, Naphtali prae thung ih Kedesh vangpui ah kaom, Abinoam capa Barak to kawksak; anih khaeah, Nangmah hoi nawnto Naphtali hoi Zebulun kami sang hato kok ah loe, Tabor mae ah caeh ah,
7Ta sẽ khiến Si-sê-ra, là thống lãnh đạo binh vua Gia-bin, đến cùng người tại khe Ki-sôn, luôn với các xe cộ và cả quân lính của hắn; ta sẽ phó hắn vào tay ngươi.
7Jabin misatuh angraeng Sisera to angmah ih misatuh kaminawk hoi nawnto hrang lakoknawk to Kishon vapui ah ka zaeh moe, na ban ah kang paek han, tiah Israel Angraeng Sithaw mah ang thuih na ai maw? tiah a naa.
8Ba-rác đáp rằng: Nếu bà đi với tôi, thì tôi sẽ đi; nhưng nếu bà không đi với tôi, tôi sẽ không đi.
8Barak mah anih khaeah, Nang doeh kai khaeah nang zoh nahaeloe, ka caeh han; toe kai khaeah nang zo ai nahaeloe, ka caeh mak ai, tiah a naa.
9Bà bèn đáp: ã, phải, ta sẽ đi với ngươi, song sự vinh hiển của việc nầy sẽ chẳng về ngươi; vì Đức Giê-hô-va sẽ phó Si-sê-ra vào tay một người nữ. Vậy, Đê-bô-ra đứng dậy, đi cùng Ba-rác đến Kê-đe.
9Deborah mah, Nang hoi nawnto ka caeh han; toe misatuk han na caehhaih loklam ah nang to mi mah doeh pakoeh mak ai. Angraeng mah nongpata ban ah ni Sisera to zaw tih, tiah a naa. To pongah Deborah loe Barak hoi nawnto Kedesh ah caeh.
10Ba-rác nhóm hiệp người Sa-bu-lôn và người Nép-ta-li tại Kê-đe, có một muôn người đi theo sau người, và Đê-bô-ra cũng đi lên với người.
10Barak mah Zebulun hoi Naphtali to Kedesh ah kawk; anih loe kami sang hato hoiah caeh; Deborah doeh anih hoi nawnto caeh toeng.
11Vả, Hê-be, người Kê-nít, đã lìa khỏi dân Kê-nít, là con cháu Hô-báp, anh em vợ của Môi-se, và đi dựng trại mình ở về cây dẻ bộp Sa-na-im, gần bên Kê-đe.
11Mosi ih amsae, Hobab ih caanawk ah kaom, Ken acaeng Heber loe Ken kaminawk to caehtaak moe, Kedesh vangpui taengah kaom, Zaanaim thing tlim ah im sak moe, to ah oh.
12Người ta thuật cho Si-sê-ra hay rằng Ba-rác, con trai của A-bi-nô-am, đã đi đến núi Tha-bô.
12Abinoam capa Barak loe Tabor mae ah caeh, tiah Sisera khaeah thuih pae o.
13Si-sê-ra bèn nhóm hiệp hết thảy xe cộ sắt mình là chín trăm cái bằng sắt, và toàn quân binh vẫn ở với mình, từ Ha-rô-sết về dân ngoại bang cho đến khe Ki-sôn.
13To naah Sisera mah angmah ih sum hoi sak ih hrang lakok cumvai takawtto hoi a taengah kaom kaminawk boih to Hagoyim prae Haroseth vangpui hoiah Kishon vapui karoek to pakhueng.
14Đê-bô-ra nói cùng Ba-rác rằng: Hãy đứng dậy, vì nầy là ngày Đức Giê-hô-va phó Si-sê-ra vào tay ngươi. Đức Giê-hô-va há chẳng đi đằng trước ngươi sao? Rồi Ba-rác đi xuống Tha-bô, có mười ngàn người theo sau.
14To naah Deborah mah Barak khaeah, Angthawk ah; vaihni loe Angraeng mah na ban ah Sisera paekhaih niah oh; na hmaa ah Angraeng caeh boeh na ai maw? tiah a naa. To pongah Barak loe, kami sang hato hoi nawnto Tabor mae hoiah caeh tathuk.
15Đức Giê-hô-va dùng mũi gươm làm cho Si-sê-ra và hết thảy xe cộ cùng toàn quân lính người vỡ chạy trước mặt Ba-rác; Si-sê-ra bèn xuống xe mình, chạy bộ mà trốn.
15Angraeng mah Sisera, anih ih hrang lakoknawk hoi angmah ih misatuh kaminawk to Barak hmaa ah sumsen hoiah hum pae; to pongah Sisera loe angmah ih hrang lakok to suek sut moe, khok hoiah cawnh.
16Ba-rác đuổi theo xe cộ và đạo binh cho đến Ha-rô-sết về dân ngoại bang; cả đạo binh Si-sê-ra bị gươm giết, không còn lại một người.
16Toe Barak mah hrang lakoknawk hoi misatuh kaminawk to Hagoyim prae Horeseth vangpui karoek to patom; Sisera ih misatuh kaminawk loe sumsen hoiah duek o boih; kami maeto doeh loih o ai.
17Si-sê-ra chạy bộ trốn đến trại Gia-ên, vợ của Hê-be, người Kê-nít; vì Gia-bin, vua Hát-so, và nhà Hê-be, người Kê-nít, hòa hảo với nhau.
17Toe Hazor siangpahrang Jabin hoi Ken acaeng Heber loe angdaehhaih sak hoi pongah, Sisera loe Ken acaeng Heber ih zu, Jael ih kahni im ah khok hoiah cawnh.
18Gia-ên ra đón Si-sê-ra, mà nói rằng: Hỡi chúa, xin hãy vào nơi nhà tôi, chớ sợ chi. Vậy, người vào trại nàng, và nàng lấy mền đắp người lại.
18Jael loe Sisera tongh hanah caeh, anih khaeah, Athung ah angzo khae, ka angraeng, athung ah kai khaeah angzo ah; zii hmah, tiah a naa. To pongah anih loe nongpata khaeah kahni imthung ah caeh, to naah nongpata mah anih to kahni hoiah khuk khoep.
19Đoạn, người nói cùng nàng rằng: Ta xin nàng cho ta chút nước uống, vì ta khát. Nàng bèn mở bầu sữa ra, cho người uống, rồi trùm người lại.
19To naah anih mah nongpata khaeah, Tahmenhaih hoi tui naek han zetta na paek ah, tui kang haeh parai, tiah a naa. Anih mah maitaw tahnutui tabu to paong moe, a naeksak; to pacoengah anih to kahni hoiah khuk let.
20Người lại nói cùng nàng rằng: Hãy đứng nơi cửa trại, nếu có ai đến hỏi rằng: ỳ đây có ai chăng? thì hãy đáp: Chẳng có ai hết.
20Anih mah nongpata hanah, Thok taengah angdoe ah; kami maeto angzo moe, hae ah kaom kami oh maw? tiah dueng nahaeloe, Om ai, tiah thui ah, tiah a naa.
21Bấy giờ người ngủ say, vì mệt nhọc quá; Gia-ên, vợ Hê-be, bèn lấy một cây nọc trại, và tay nắm cái búa, nhẹ nhẹ đến bên người, lấy cái nọc đóng thủng màng tang người, thấu xuống đất, và người chết đi.
21Toe Heber zu Jael loe angpho loiah ka iip sut Sisera taengah amzaita hoiah caeh, kahni im sakhaih sumdik hoi cakii to a lak moe, long pra khoek to anih ih naalaking ah takhuek puet, to pongah anih to duek.
22Ba-rác đang còn rượt theo Si-sê-ra, Gia-ên bèn ra đón người, mà nói rằng: Hãy đến, tôi sẽ chỉ cho ông thấy người mà ông đang tìm kiếm. Ba-rác vào nhà nàng, thấy Si-sê-ra nằm chết sải, có nọc đâm nơi màng tang.
22Khenah, Barak mah Sisera to patom; Jael mah anih to dawt moe, anih khaeah, Angzo ah, na pakrong ih kami to kang patuek han, tiah a naa. Barak nongpata ih kahni imthung ah akunh naah, naalaking ah sumdik hoi takhuek puet moe, kadueh sut Sisera to hnuk.
23Trong ngày đó, Đức Chúa Trời khiến cho Gia-bin, vua Ca-na-an, bị phục trước mặt dân Y-sơ-ra-ên.
23To pongah to na niah Sithaw mah Kanaan siangpahrang Jabin to, Israel kaminawk hmaa ah sungsak.
24Tay dân Y-sơ-ra-ên càng ngày càng mạnh thắng Gia-bin, vua Ca-na-an, cho đến chừng chúng đã diệt người đi.
24Hnukkhuem ah loe Israel kaminawk mah Kanaan siangpahrang Jabin to hum o, Israel kaminawk loe khosakhoih o moe, misa pazawk o.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.