Quan
Chapter 20
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Asang Khongca Bibl…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Bấy giờ, cả dân Y-sơ-ra-ên đều kéo ra đi, từ Đan cho đến Bê-e-sê-ba, và cho đến xứ Ga-la-át; hội chúng tụ hiệp lại như một người trước mặt Đức Giê-hô-va, tại Mích-ba.
1To naah Israel kaminawk boih, Gilead prae ih kaminawk doeh Dan hoi Beersheba karoek to, Mizpah avang ah Angraeng hmaa ah maeto ah amkhueng o.
2Những quan trưởng của cả dân sự, tức là của các chi phái Y-sơ-ra-ên, đều ra mắt trong hội của dân Đức Chúa Trời: có bốn trăm ngàn lính bộ, có tài cầm gươm.
2Israel acaeng hoi kaminawk zaehoikungnawk loe, Sithaw kaminawk amkhuenghaih ahmuen ah angpop o; sumsen hoi misatuh thaih khok hoi misatuh kami sang cumvai palito oh o.
3Vả, người Bên-gia-min đã hay rằng dân Y-sơ-ra-ên đi lên Mích-ba. Dân Y-sơ-ra-ên nói: Hãy thuật lại cho biết tội ác nầy đã phạm làm sao?
3Israel kaminawk Mizpah vangpui ah caeh o, tiah Benjamin kaminawk mah thaih o. To naah Israel kaminawk mah, Hae tiah kaom kasae hmuen hae kawbangmaw oh na thui oh? tiah a naa o.
4Người Lê-vi, chồng của người đàn bà đã bị giết, đáp rằng: Tôi có vào thành Ghi-bê-a, là thành của Bên-gia-min, với vợ bé tôi, đặng ngủ đêm tại đó.
4Kadueh nongpata ih sava Levi mah, Kai loe aqum iih hanah Benjamin prae Gibeah vangpui ah ka zula hoi nawnto ka caeh.
5Nhưng dân Ghi-bê-a dấy lên cùng tôi, đang ban đêm vây nhà tôi ở; chúng đã toan giết tôi, có hành hung cùng vợ bé tôi, và nó chết vì cớ đó.
5Gibeah vangpui ih kaminawk loe aqum ah ka toem ih im ah angzoh o moe, kai hum hanah im to takui o khoep; toe ka zula to duek khoek to zae o haih.
6Đoạn, tôi nắm lấy thây vợ bé tôi, chặt nó ra từng đoạn, gởi đi khắp địa phận của sản nghiệp Y-sơ-ra-ên; vì chúng nó có phạm một tội trọng, một sự sỉ nhục trong Y-sơ-ra-ên.
6Nihcae mah Israel prae acaeng thungah hae tiah nongpata nuiah zaehaih a sak o pongah, ka zula to ka lak moe, ka takroek pet pet pacoengah, Israelnawk mah qawk ah toep o ih prae boih ah ka pat.
7Nầy, hết thảy dân Y-sơ-ra-ên có mặt đây; anh em hãy bàn luận nhau và liệu định phải làm thế nào đây.
7Khenah, nangcae loe Israel kami ah na oh o; hae hmuen kawng hae ah thui oh loe, lok takroek oh, tiah a naa.
8Cả dân sự đứng dậy như một người mà rằng: Chẳng ai trong chúng ta sẽ trở lại trại mình; không ai rút về nhà mình.
8Israel kaminawk loe poekhaih maeto ah amhong o boih, mi doeh im ah amlaem hmah si, im ah caeh doeh caeh hmah si.
9Bây giờ, nầy là điều chúng ta phải xử cho Ghi-bê-a: Chúng ta sẽ đi lên đánh thành đó theo thứ tự của thăm nhất định.
9Vaihi taham khethaih phoisa to va si loe, Gibeah vangpui tuk hanah caeh o si.
10Trong các chi phái Y-sơ-ra-ên, chúng ta phải lấy mười người trong một trăm, trăm người trong một ngàn, ngàn người trong một muôn. Chúng ta sẽ đi tìm lương thực cho dân sự; rồi khi trở về, người ta phải xử Ghi-bê-a của Bên-gia-min, tùy theo sự sỉ nhục mà thành ấy đã phạm nơi Y-sơ-ra-ên.
10Benjamin kaminawk mah Israel kaminawk nuiah sak o ih kahoih ai hmuen baktih toengah, nihcae nuiah kating ah lu lak moe, Gibeah vangpui ah caeh kaminawk caaknaek paek thai hanah, Israel acaengnawk boih thung ih kami cumvaito thungah hato, sangto thungah cumvaito, sang hato thungah sangto kok si, tiah a thuih o.
11Aáy vậy, hết thảy người Y-sơ-ra-ên nhóm nhau hãm đánh thành đó, hiệp lại như chỉ một người.
11To pongah Israel kaminawk boih, maeto ah amkhueng o moe, vangpui to tuk hanah poekhaih maeto ah amhong o.
12Các chi phái Y-sơ-ra-ên sai sứ giả đến cùng chi phái Bên-gia-min mà nói rằng: Tội ác đã phạm tại trong các ngươi là gì?
12Israel kaminawk mah Benjamin acaengnawk khaeah laicaeh patoeh boih, Hae baktih kahoih ai hmuen sakhaih loe nangcae salakah kawbangmaw oh?
13Bây giờ, hãy nộp cho chúng ta những người gian tà của Ghi-bê-a, để chúng ta xử tử chúng nó, và diệt điều ác khỏi giữa Y-sơ-ra-ên. Nhưng người Bên-gia-min không khứng nghe tiếng của anh em mình, là dân Y-sơ-ra-ên,
13To pongah Gibeah vangpui ah kaom kasae kaminawk to ka hum o moe, Israel prae thung hoiah to baktih kasae hmuen sakhaih oh han ai ah, kahoih ai kaminawk to kaicae ban ah na paek oh, tiah a naa o. Toe Benjamin kaminawk mah angmacae nawkamya Israel kaminawk ih lok to tiah doeh sah pae o ai.
14bèn ra khỏi thành họ, và nhóm hiệp tại Ghi-bê-a đặng giao chiến cùng dân Y-sơ-ra-ên.
14Toe Israel kaminawk to tuk hanah, avang boih ih Benjamin kaminawk loe Gibeah vangpui ah caeh o moe, to ah amkhueng o.
15Trong ngày đó, người ta tu bộ người Bên-gia-min từ các thành mà đến; số là hai muôn sáu ngàn người nam, đều có tài cầm gươm, không kể dân Ghi-bê-a, được số bảy trăm người tinh-binh.
15Benjamin kaminawk loe, Gibeah vangpui thung hoiah qoih ih sumsen hoi misatuh thaih kami cumvai sarihto, alah avangnawk hoiah kok ih kami sang pumphae tarukto oh o.
16Trong cả dân sự ấy có bảy trăm người tinh-binh thuận tay tả. Hết thảy những kẻ đó có tài dùng trành ném đá trúng một sợi tóc, mà chẳng hề sai trật.
16To kaminawk thungah sam maeto mataeng doeh haeh ai ah, ngazai hoi kazai thaih, banqoi ban patoh kop qoih ih kami cumvai sarihto oh o.
17Người ta cũng tu bộ những người nam Y-sơ-ra-ên, không kể người Bên-gia-min, thì số được bốn mươi vạn người, có tài cầm gươm, thảy đều là chiến sĩ.
17Benjamin kaminawk thui ai ah, sumsen hoi misatuh thaih Israel kaminawk loe sang cumvai palito oh o.
18Vậy, dân Y-sơ-ra-ên đi lên Ghi-bê-a và cầu vấn Đức Chúa Trời như vầy: Ai trong chúng tôi phải lên trước đặng giao chiến cùng người Bên-gia-min? Đức Giê-hô-va đáp: Giu-đa sẽ đi lên trước.
18Israel kaminawk loe angthawk o moe, Sithaw im ah caeh o tahang pacoengah, Benjamin kaminawk tuk hanah mi maw caeh hmaloe tih? tiah angmacae ih Sithaw khaeah a dueng o. Angraeng mah, Judah caeh hmaloe tih, tiah a naa.
19Vừa sáng ngày, dân Y-sơ-ra-ên kéo đi và đóng trại gần Ghi-bê-a.
19Israel kaminawk loe khawnbang khawnthaw ah angthawk o moe, Gibeah vangpui to takui o.
20Người Y-sơ-ra-ên ra đánh người Bên-gia-min, dàn trận cùng chúng tại trước Ghi-bê-a.
20Israel kaminawk loe Benjamin kaminawk to tuk hanah caeh o, Gibeah vangpui ah nihcae to tuk hanah amsak o.
21Người Bên-gia-min bèn ra khỏi Ghi-bê-a, và trong ngày đó, giết hai muôn hai ngàn người Y-sơ-ra-ên, nằm chật đất.
21Benjamin kaminawk loe vangpui thung hoiah tacawt o, to na niah Israel kaminawk to long ah sang pumphae hnetto a hum o.
22Dân Y-sơ-ra-ên lại phấn chí, dàn trận mới tại chỗ mình đã dàn ngày thứ nhất.
22Toe Israel kaminawk loe maeto pacoeng maeto tha angpaek o moe, hmaloe ah ataihaih ahmuen ah atai o let.
23Dân Y-sơ-ra-ên đi lên khóc trước mặt Đức Giê-hô-va cho đến chiều tối, cầu vấn Đức Giê-hô-va mà rằng: Tôi phải giao chiến lại cùng người Bên-gia-min, là anh em của tôi, chăng? Đức Giê-hô-va đáp: Hãy lên đánh nó!
23Israel kaminawk loe caeh o tahang moe, duembang khoek to Angraeng hmaa ah qah o pacoengah, Angraeng khaeah, Kam nawk, Benjamin tuk hanah ka caeh o tahang let han maw? tiah a dueng o. Angraeng mah, Caeh o tahangh loe, nihcae to tuh oh, tiah a naa.
24Ngày thứ nhì người Y-sơ-ra-ên kéo tới đánh người Bên-gia-min.
24To pongah ni hnetto haih naah loe, Israel kaminawk mah Benjamin kaminawk tuk hanah a taengah anghnai o thuih.
25Người Bên-gia-min cũng ra Ghi-bê-a nội ngày đó, đánh dân Y-sơ-ra-ên, lại giết nằm sải dưới đất một muôn tám ngàn người của dân ấy, thảy đều có tài cầm gươm.
25Ni hnetto naah Benjamin kaminawk loe Israel kaminawk tuk hanah Gibeah vangpui thung hoiah tacawt o moe, sumsen sin Israel kami sang hatlai tazetto long ah a hum o let bae.
26Bấy giờ, hết thảy người Y-sơ-ra-ên và cả dân sự đều đi lên Bê-tên, khóc và đứng tại đó trước mặt Đức Giê-hô-va, cữ ăn trong ngày ấy cho đến chiều tối, rồi dâng của lễ thiêu và của lễ thù ân tại trước mặt Đức Giê-hô-va.
26To naah Israel kaminawk boih, Angraeng im ah caeh o tahang moe, anghnut o pacoengah, Angraeng hmaa ah qah o. Duembang khoek to buhzah o moe, Angraeng hmaa ah hmai angbawnhaih hoi angdaeh angbawnhaih to a sak o.
27Đang khi ấy, hòm giao ước của Đức Chúa Trời ở tại đó, có Phi-nê-a, con trai Ê-lê-a-sa, cháu A-rôn, phục sự trước mặt Đức Giê-hô-va. Vậy, dân Y-sơ-ra-ên cầu vấn Đức Giê-hô-va mà rằng:
27To pacoengah Israel kaminawk mah Angraeng khaeah lokdueng o; to nathuem ah Angraeng lokmaihaih to ah oh.
28Tôi còn phải giao chiến cùng người Bên-gia-min, anh em tôi, hay là tôi phải đình lại? Đức Giê-hô-va đáp: Hãy đi lên, vì ngày mai ta sẽ phó chúng nó vào tay các ngươi.
28Aaron capa Phinehas, Phinehas capa Eleazar loe to ah toksahkung ah oh; nihcae mah, Nawkamya, Benjamin tuk hanah ka caeh o han maw, ka caeh o mak ai? tiah dueng o. To naah Angraeng mah, Caeh oh, khawnbangah nihcae to nangcae ban ah kang paek han, tiah a naa.
29Y-sơ-ra-ên bèn phục binh chung quanh Ghi-bê-a.
29To naah Israel kaminawk mah Gibeah vangpui to takui o khoep.
30Ngày thứ ba, dân Y-sơ-ra-ên đi lên, đánh người Bên-gia-min và dàn trận cùng Ghi-bê-a như các lần trước.
30Ni thumto naah, Israel kaminawk loe Benjamin acaengnawk tuk hanah caeh o tahang let.
31Người Bên-gia-min ra đón dân Y-sơ-ra-ên, bị dụ xa thành. Y như hai lần trước chúng khởi đánh và giết mấy người của dân Y-sơ-ra-ên, chừng ba mươi người, tại trong hai con đường trải qua đồng bằng đi lên, một ngả tới Bê-tên, và ngả kia tới Ghi-bê-a.
31Benjamin kaminawk loe kaminawk tuk hanah vangpui hoi tacawt o moe, ahmuen kangthla ah caeh o; a sak o zong ih baktih toengah, Israel kaminawk to tuk o moe, a hum o; Sithaw im caehhaih loklam hoi Gibeah vangpui caehhaih loklam ah Israel kaminawk to quithumto hum o.
32Người Bên-gia-min nói rằng: Kìa, chúng nó bị bại trước mặt chúng ta như lần trước. Nhưng dân Y-sơ-ra-ên nói: Chúng ta hãy chạy trốn, dụ chúng nó ra cách xa thành, đến trong các đường cái.
32Benjamin kaminawk mah hmaloe ah a sak o ih baktih toengah, nihcae to pazawk boeh, tiah a poek o. Toe Israel kaminawk mah, Cawn o si loe, nihcae to vangpui thung hoiah vapui bangah zoek si, tiah thuih o.
33Hết thảy người Y-sơ-ra-ên bèn bỏ chỗ mình đứng, dàn trận tại Ba-anh-Tha-ma, và đạo binh phục của Y-sơ-ra-ên đâm sầm ra khỏi chỗ phục mình tại đồng bằng Ghi-bê-a.
33Israel kaminawk boih ohhaih ahmuen hoiah angthawk o moe, Baal-Tamar vangpui ah atai o let; to naah misatoep Israel kaminawk loe Gibeah vangpui azawn hoiah angzoh o.
34Như vậy, xảy có một muôn tinh binh của Y-sơ-ra-ên đã phục trước tại Ghi-bê-a xông tới, đánh giặc rất dữ dội; nhưng người Bên-gia-min không biết tai họa hãm lấy mình.
34To naah Israel kaminawk thung hoiah qoih ih kami sang hato mah Gibeah vangpui to tuk o; misa angtukhaih loe paroeai rai, toe angmacae nuiah sethaih pha tih boeh, tiah Benjamin kaminawk mah panoek o ai.
35Đức Giê-hô-va đánh bại người chi phái Bên-gia-min trước mặt dân Y-sơ-ra-ên; và trong ngày đó, dân Y-sơ-ra-ên giết hai muôn năm ngàn mốt người Bên-gia-min, hết thảy đều có tài cầm gươm.
35Angraeng mah Israel kaminawk hmaa ah Benjamin to pazawk pae; to na niah Angraeng mah sumsen hoiah misatuh Benjamin kami, sang pumphae pangato pacoeng, cumvaito a hum pae.
36Người Bên-gia-min thấy rõ mình bị bại. Vả, người Y-sơ-ra-ên đã nhường bước cho người Bên-gia-min, vì chúng tin cậy nơi sự phục binh mình ở gần Ghi-bê-a.
36To naah Benjamin kaminawk mah ka sung o boeh, tiah panoek o; Gibeah vangpui taeng ih misa angang kaminawk to a oep o pongah, Israel kaminawk loe Benjamin kaminawk hmaa ah hnuk angnawn pae o.
37Những binh đã phục, lật đật xông hãm Ghi-bê-a, đi tới lấy gươm giết hết thảy cả người ở thành.
37To naah misa angang kaminawk loe Gibeah vangpui thungah akun o moe, vangpui thung ih kaminawk boih sumsen hoi hum o.
38Người Y-sơ-ra-ên đã hẹn một dấu hiệu với những binh phục, là những binh phục phải làm cho một ngọn khói đen cất lên khỏi thành.
38Israel kaminawk loe vangpui to hmai hoi thlaek hanah, misa angang kaminawk hoiah lok angsuek o.
39Vậy, dân Y-sơ-ra-ên đã thối lại trong trận, còn người Bên-gia-min khởi đánh và giết chết chừng ba mươi người Y-sơ-ra-ên. Chúng nói: Quả thật chúng nó bị thua trước mặt chúng ta như lần trước!
39Israel kaminawk misatukhaih hoi hnukbang angnawn o naah, Benjamin kaminawk mah, canghniah Israel kaminawk ka pazawk o moe, ka hum o baktiah, pazawk let tih, tiah a poek o, to naah nihcae mah Israel kaminawk to quithumto a hum o.
40Nhưng khi trụ khói khởi bay lên khỏi thành, người Bên-gia-min nhìn xem lại đằng sau, thấy cả thành đều có khói bay lên trên trời.
40Toe Benjamin kaminawk nihcae khae hoi amlaem o naah, vangpui thung hoiah tacawt tahang hmaikhue to a hnuk o.
41Bấy giờ, dân Y-sơ-ra-ên trở lại, còn những người Bên-gia-min lấy làm kinh hãi, vì thấy tai họa đã hãm áp mình.
41Israel kaminawk mah nihcae angqoi thuih naah, Benjamin kaminawk loe tasoeh takuenhaih hoiah oh o; a sak o ih zaehaih atho angmacae nuiah phak boeh, tiah nihcae mah panoek o.
42Chúng xây lưng lại trước mặt dân Y-sơ-ra-ên, chạy trốn về phía đồng vắng; nhưng đạo binh Y-sơ-ra-ên theo riết gần, và những kẻ ra khỏi thành đều bị giết liền.
42To pongah Israel kaminawk hmaa ah praezaek ah cawnh o, toe loih o ai; misatuh kaminawk mah patom o moe, kae o naah, vangpui thung hoi tacawt kaminawk to nihcae mah hum o boih.
43Chúng vây phủ người Bên-gia-min, đuổi theo và chà đạp họ tại nơi họ dừng lại, cho đến chỗ đối ngang Ghi-bê-a, về hướng mặt trời mọc.
43Benjamin kaminawk to patom o moe, zoidaekta ah Gibeah ni angyae bangah kae o, to naah nihcae to takui o khoep.
44Như vậy, một muôn tám ngàn người Bên-gia-min phải ngã, thảy đều là người dõng sĩ.
44Thacak misatuh Benjamin kaminawk sang hatlai tazetto duek o.
45Trong số người xây lưng chạy trốn về phía đồng vắng, hướng hòn đá Rim-môn, thì dân Y-sơ-ra-ên còn giết dọc đường năm ngàn người nữa, đoạn theo riết gần đến Ghi-bê-om thì giết hai ngàn người.
45Nihcae loe hnuk angnawn o moe, Rimmon thlung ohhaih ahmuen praezaek ah cawnh o, toe Israel kaminawk mah nihcae to patom o moe, loklam ah kami sang pangato hum o; Benjamin kaminawk to Gidom karoek to patom o moe, kami sang hnetto hum o let.
46Vậy, số tổng cộng người Bên-gia-min ngã chết trong ngày đó là hai muôn năm ngàn người có tài cầm gươm, và thảy đều là người dõng sĩ.
46To na niah sumsen hoi misatuh Benjamin kami sang pumphae pangato duek o; nihcae boih loe misatuk kop kami ah oh o.
47Lại có sáu trăm người xây lưng chạy trốn về phía đồng vắng, đến hòn đá Rim-môn và ở đó bốn tháng.
47Toe kami cumvai taruktonawk loe amlaem o let moe, Rimmon thlung ohhaih ahmuen praezaek ah cawnh o; to ahmuen ah khrah palito thung a oh o.
48Đoạn, dân Y-sơ-ra-ên trở lại đánh người Bên-gia-min, dùng gươm giết hết thảy người ta ở trong thành, súc vật và hết thảy vật nào gặp được; lại hễ gặp thành nào, thì châm lửa đốt nó.
48Israel kaminawk mah Benjamin kaminawk to pangh o let moe, vangpui thung ih kaminawk hoi pacah ih moinawk boih to sumsen hoiah hum o; a caeh o naah a hnuk o ih vangpuinawk to hmai hoiah qoeng pae o boih.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.