I Vua
Chapter 17
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Asang Khongca Bibl…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Ê-li ở Thi-sê-be, là một người trong bọn đã sang ngụ Ga-la-át, nói với A-háp rằng: Ta đứng trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên hằng sống mà thề rằng: Mấy năm về sau đây, nếu ta chẳng nói, chắc sẽ không có sương, cũng không có mưa.
1Gilead prae Tishbe avang ah kaom Elijah mah Ahab khaeah, Kai mah a hmaa ah kang doet moe, a tok ka sak pae ih Israel Angraeng Sithaw loe hing pongah, ka thuih ih lok ai ah loe, vaining saning thungah dantui krah mak ai, kho doeh angzo mak ai boeh, tiah a naa.
2Đoạn có lời của Đức Giê-hô-va phán dạy người rằng:
2To naah Angraeng ih lok Elijah khaeah angzoh,
3Hãy đi khỏi đây, qua phía đông, và ẩn ngươi bên khe Kê-rít, đối ngang Giô-đanh.
3hae ih ahmuen hae tacawt taak loe, ni angyae bangah caeh ah, Jordan vapui hmaa ah kaom, Kerith vacong ah anghawk ah.
4Ngươi sẽ uống nước của khe, và ta đã truyền cho chim quạ nuôi ngươi tại đó.
4Vacong tui to nae ah; nang pacah hanah pangaah to lok ka paek boeh, tiah a naa.
5Vậy, Ê-li đi, vâng theo lời của Đức Giê-hô-va, và đến ở nơi mé khe Kê-rít đối ngang Giô-đanh.
5Angraeng mah thuih ih lok baktih toengah, anih mah sak; Jordan vapui hmaa ah kaom, Kerith vacong ah caeh moe, to ahmuen ah oh.
6Buổi mai và buổi chiều chim quạ đem bánh và thịt cho người; và người uống nước khe.
6Aduem akhawn pangaah mah takaw hoi moi to thak pae moe, vacong tui to a naek.
7Nhưng trong ít lâu, thì khe bị khô, vì trong xứ không có mưa.
7Atue nazetto maw oh pacoengah loe, prae thungah kho angzo ai boeh, to pongah vacong tui to kang king.
8Bấy giờ, có lời của Đức Giê-hô-va phán dạy Ê-li rằng:
8Angraeng ih lok anih khaeah angzoh,
9Hãy chổi dậy, đi đến Sa-rép-ta, thành thuộc về Si-đôn, và ở tại đó; kìa, ta đã truyền cho một người góa bụa ở thành ấy lo nuôi ngươi.
9angthawk ah, Sidon prae Zerephath vangpui ah caeh loe, to ah om ah; khenah, nang buh pacah hanah to ahmuen ah kaom lamhmai maeto khaeah lok ka paek boeh, tiah a naa.
10Vậy, người đứng dậy đi đến Sa-rép-ta. Khi đến cửa thành, người thấy một người đàn bà góa lượm củi, bèn kêu mà nói rằng: Ta xin ngươi hãy đi múc một chút nước trong bình để cho ta uống.
10To pongah anih mah angthawk moe, Zerephath ah caeh; khenah, vangpui khongkha a phak naah, thing aek nongpata maeto oh; anih mah to lamhmai nongpata to kawk moe, anih khaeah, Tahmenhaih hoi ka naek hanah boengloeng pongah tui zetta na paek ah, tiah a naa.
11Nàng bèn đi múc nước. Nhưng người kêu lại và nói với nàng rằng: Cũng hãy đem trong tay ngươi cho ta một miếng bánh nữa.
11Lamhmai nongpata mah tui to lak hanah caeh naah, anih mah, Tahmenhaih hoi takaw kae tetta doeh na sin thoem ah, tiah a naa.
12Nàng đáp: Tôi chỉ mạng sống của Giê-hô-va Đức Chúa Trời của ông mà thề, tôi không có bánh, chỉ có một nắm bột trong vò và một chút dầu trong bình; này tôi lượm hai khúc củi, đoạn về nấu dọn cho tôi và con trai tôi; khi ăn rồi, chúng tôi sẽ chết.
12Lamhmai nongpata mah, na Angraeng Sithaw hing baktih toengah, takaw loe ka tawn ai; toe laom thung ih takaw dip thoemto hoi pailang thungah situi zetta ni ka tawnh; khenah, thing tanghang hnetto ka khuih, to thing hoiah ka capa kaimah hnik hanah buh ka thongh, buh ka caak hoi pacoengah loe ka duek hoi han boeh, tiah ka poek, tiah a naa.
13Nhưng Ê-li tiếp rằng: Chớ sợ chi, hãy trở về, làm y như ngươi đã nói; song trước hãy dùng bột ấy làm cho ta một cái bánh nhỏ, rồi đem ra cho ta; kế sau ngươi sẽ làm cho ngươi và cho con trai ngươi.
13Elijah mah anih khaeah, Zii hmah, caeh loe na thuih ih lok baktih toengah sah ah; toe kai hanah takaw zetta na sah paeh hmaloe ah loe sin ah; to pacoengah nang mah hoi na capa hanah sah ah.
14Vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phán như vậy: Bột sẽ không hết trong vò, và dầu sẽ không thiếu trong bình, cho đến ngày Đức Giê-hô-va giáng mưa xuống đất.
14Israel Angraeng Sithaw mah hae tiah thuih; Angraeng mah prae thungah kho angzosak ai karoek to, laom thungah kaom takaw dip to boeng mak ai ueloe, pailang thung ih situi doeh kang mak ai, tiah a naa.
15Vậy, nàng đi và làm theo điều Ê-li nói. Nàng và nhà nàng, luôn với Ê-li ăn trong lâu ngày.
15To pongah lamhmai nongpata loe caeh moe, Elijah mah thuih ih lok baktih toengah a sak; to naah Elijah, lamhmai hoi angmah ih imthung takohnawk mah, ni paroeai thung caak khawt buh to a tawnh o.
16Bột chẳng hết trong vò, dầu không thiếu trong bình, y như lời Đức Giê-hô-va đã cậy miệng Ê-li mà phán ra.
16Elijah mah thuih ih Angraeng ih lok baktih toengah, laom thung ih takaw dip to boeng ai moe, pailang thung ih situi doeh kang ai.
17Sau một ít lâu, con trai của người đàn bà, tức là chủ nhà, bị đau; bịnh rất nặng đến đỗi trong mình nó chẳng còn hơi thở.
17Ni nazetto maw oh pacoengah im tawnkung, nongpata ih capa to ngannat; anih ngannathaih loe nung parai pongah, anghah thai ai.
18Người đàn bà bèn nói với Ê-li rằng: Hỡi người của Đức Chúa Trời, tôi với ông có việc chi chăng? Có phải ông đến nhà tôi đặng nhắc lại những tội lỗi tôi và giết con tôi chăng?
18To nongpata mah Elijah khaeah, Aw Sithaw kami, nang hoi kai loe timaw asaenghaih oh? Ka zaehaih panoeksak moe, ka capa hum han ih maw kai khaeah nang zoh? tiah a naa.
19Người đáp với nàng rằng: hãy giao con nàng cho ta. Người bồng nó khỏi tay mẹ nó, đem lên phòng cao, chỗ người ở, và để nó nằm trên giường mình.
19Elijah mah, Na capa to na paek ah, tiah a naa. Anih mah nongpata ban ih nawkta to lak moe, a ohhaih im ranui ah caeh haih pacoengah, a iihhaih ahmuen ah angsongsak.
20Đoạn, người kêu cầu cùng Đức Giê-hô-va mà rằng: Giê-hô-va Đức Chúa Trời tôi ôi! cớ sao Ngài giáng tai họa trên người đàn bà góa này, nhà nàng là nơi tôi trú ngụ, mà giết con trai người đi?
20To pacoengah Angraeng khaeah, Aw ka Angraeng Sithaw, ka toemhhaih lamhmai nuiah raihaih na phaksak moe, a capa na dueksak maw? tiah a hangh.
21Người nằm ấp trên mình con trẻ ba lần, lại kêu cầu cùng Đức Giê-hô-va nữa mà rằng: Oâi Giê-hô-va Đức Chúa Trời tôi! xin Chúa khiến linh hồn của đứa trẻ này trở lại trong mình nó.
21Nawkta nuiah vai thumto tabok pacoengah, Angraeng khaeah, Aw ka Angraeng Sithaw, hae nawkta hinghaih amlaemsak let ah, tiah a hangh.
22Đức Giê-hô-va nhậm lời của Ê-li; linh hồn của đứa trẻ trở lại trong mình nó, và nó sống lại.
22Angraeng mah Elijah hanghhaih lok to thaih naah, nawkta hinghaih amlaemsak let pongah, nawkta loe hing let.
23Ê-li bồng đứa trẻ, đi xuống lầu, vào trong nhà dưới, giao cho mẹ nó mà nói rằng: Hãy xem, con nàng sống.
23Elijah mah nawkta to lak pacoengah, angmah ih imthung hoi a ohhaih im ah caeh haih let; amno khaeah paek let pacoengah, Elijah mah khenah, na capa hing let boeh, tiah a naa.
24Nàng bèn nói cùng Ê-li rằng: Bây giờ tôi nhìn biết ông là một người của Đức Chúa Trời, và lời phán của Đức Giê-hô-va ở trong miệng ông là thật.
24To naah nongpata mah Elijah khaeah, Nang loe vaihi Sithaw kami ah na oh, na pakha ih Sithaw lok loe loktang ni, tiah ka panoek boeh, tiah a naa.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.