I Sử
Chapter 16
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Asang Khongca Bibl…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Chúng thỉnh hòm của Đức Chúa Trời về, để trong trại của Đa-vít đã dựng lên cho nó; đoạn dâng những của lễ thiêu và của lễ bình an tại trước mặt Đức Chúa Trời.
1Sithaw ih thingkhong to phawh o moe, David mah sak ih kahni im aum ah suek o pacoengah, Sithaw hmaa ah hmai angbawnhaih hoi angdaeh angbawnhaih to sak o.
2Khi Đa-vít đã dâng của lễ thiêu và của lễ bình an xong, bèn nhân danh Đức Giê-hô-va chúc phước cho dân sự;
2David mah hmai angbawnhaih hoi angdaeh angbawnhaih sak pacoengah, Angraeng ih ahmin hoiah tahamhoihaih to paek.
3đoạn phân phát cho hết thảy người Y-sơ-ra-ên, cả nam và nữ, mỗi người một ổ bánh, một miếng thịt, và một cái bánh nho khô.
3To pacoengah Israel nongpa nongpanawk boih khaeah, takaw phaek maeto, moi ngan maeto, misurthaih takaw karoem to a paek.
4Người lập mấy người Lê-vi hầu việc trước hòm của Đức Giê-hô-va, ngợi khen, cảm tạ, và ca tụng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên:
4Thoemto Levi kaminawk hanah loe, Angraeng lokkamhaih thingkhong hmaa ah toksak moe, Israel Angraeng Sithaw to saphaw pacoengah, anghoehaih lokthuihaih tok to a paek.
5A-sáp làm chánh, Xa-cha-ri làm phó, rồi thì Giê-i-ên, Sê-mi-ra-mốt, Giê-hi-ên, Ma-ti-thia, Ê-li-áp, Bê-na-gia, Ô-bết-Ê-đôm, và Giê-i-ên, đều cầm nhạc khí, đàn cầm và đàn sắt; còn A-sáp nổi chập chỏa vang lên.
5Asaph loe lu koekah oh, hnetto haih ah Zekariah, anih pacoengah Jeiel, Shemiramoth, Jehiel, Mattithiah, Eliab, Benaiah, Obed-Edom cae to a suek; Jeiel loe aqui kapop katoeng hoi tamoinawk to kruek moe, Asaph mah cingceng to boh;
6Bê-na-gia và thầy tế lễ Gia-ha-xi-ên đều hằng thổi kèn ở trước hòm giao ước của Đức Chúa Trời.
6qaima Benaiah hoi Jahaziel hnik doeh Sithaw lokkamhaih thingkhong hmaa ah mongkah to ueng hoi toeng.
7Trong ngày đó, Đa-vít trao nơi tay A-sáp và anh em người bài hát nầy, đặng ngợi khen Đức Giê-hô-va:
7To niah David mah Asaph hoi angmah ih nawkamyanawk khaeah, paek hmaloe ih anghoehaih hoi Angraeng saphawhaih saam laa to sak.
8Đáng ngợi khen Đức Giê-hô-va cầu khẩn danh Ngài, Và đồn công việc Ngài ra giữa các dân tộc!
8Angraeng khaeah anghoehaih lok to thui oh, ahmin to kawk oh; a sak ih hmuennawk to kaminawk boih panoek o sak ah.
9Hãy ca hát cho Ngài, hãy ngợi khen Ngài! Suy gẫm về các công việc mầu của Ngài.
9Anih khaeah laa to sah oh, anih saphawhaih laa to sah oh, a sak ih dawnrai hmuennawk to thui oh.
10Hãy lấy danh thánh Ngài làm vinh; Phàm ai tìm cầu Đức Giê-hô-va, khá vui lòng!
10Anih ih kaciim ahmin to pakoeh oh; Angraeng pakrong kaminawk ih palungthin loe anghoe nasoe.
11Phải tìm cầu Đức Giê-hô-va và sức mạnh Ngài, Phải tìm mặt Ngài luôn luôn.
11Angraeng hoi a thacakhaih to khen oh loe, anih ih mikhmai to khen o poe ah.
12Hỡi dòng dõi của Y-sơ-ra-ên, là đầy tớ Ngài, Hỡi con cháu của Gia-cốp, là kẻ Ngài chọn,
12A sak ih dawnrai hmuennawk hoi anghmang thok hmuennawk, a thuih ih lokcaekhaihnawk to panoek oh.
13Hãy nhớ lại công việc mầu của Ngài đã làm, Những phép lạ Ngài, và lời xét đoán của miệng Ngài.
13Aw a tamna Israel caanawk, Jakob ih caanawk, a qoih ih kaminawk.
14Ngài vốn là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của chúng ta; Sự xét đoán Ngài làm ra khắp thế gian.
14Anih loe aicae ih Angraeng Sithaw ah oh; a lokcaekhaih loe long nui boih ah oh.
15Khá nhớ đời đời sự giao ước Ngài, Và mạng lịnh Ngài đã định cho ngàn đời,
15Anih loe a sak ih lokmaihaih to panoek poe moe, a paek ih lok to caanawk dung khoek to panoek;
16Tức giao ước, Ngài đã lập cùng Aùp-ra-ham, Và lời thề Ngài đã thề cùng Y-sác;
16Abraham hoi sak ih lokmaihaih, Isaak hoi sak ih lokmaihaih to panoek poe;
17Lại quyết định cho Gia-cốp làm điều lệ, Cho Y-sơ-ra-ên làm giao ước đời đời,
17Jakob khaeah lok takroekhaih to caksak moe, Israel khaeah dungzan lokmaihaih to a caksak.
18Rằng: Ta sẽ ban cho ngươi xứ Ca-na-an, Là phần cơ nghiệp ngươi.
18Na toep o han koi qawk ah kaom, Kanaan prae to kang paek han, tiah thuih.
19Khi ấy các ngươi chỉ một số ít người, Hèn mọn, và làm khách trong xứ;
19Nangcae loe nazetto doeh na om o ai, kami zetta ni na oh o, to prae thungah angvin ah ni na oh o.
20Trảy từ dân nầy qua dân kia, Từ nước nầy đến nước khác.
20Nihcae loe prae maeto khaeah caeh o moe, kami maeto hoi maeto khaeah ah amhet o.
21Ngài không cho ai hà hiếp chúng, Ngài trách phạt các vua vì cớ họ,
21Nihcae to mi mah doeh pacaekthlaeksak ai, nihcae pongah siangpahrangnawk to a zoeh.
22Mà rằng: Chớ đụng đến những kẻ chịu xức dầu ta, Đừng làm hại cho các tiên tri ta.
22Situi ka bawh ih kaminawk hae sui hmah; kai ih tahmaanawk to pacaekthlaek o hmah, tiah a naa.
23Hỡi người khắp thế gian, khá hát ngợi khen Đức Giê-hô-va; Ngày ngày hãy tỏ ra sự chửng cứu của Ngài!
23Long kaminawk boih, Angraeng khaeah laasah oh; nito pacoeng nito a pahlonghaih to thui oh.
24Trong các nước hãy thuật sự vinh hiển của Ngài; Tại muôn dân khá kể những công việc mầu của Ngài.
24A lensawkhaih to Sithaw panoek ai kaminawk khaeah thui oh loe, a sak ih dawnrai hmuen to prae kaminawk boih khaeah taphong oh.
25Vì Đức Giê-hô-va là lớn, rất đáng ngợi khen, Đáng kính sợ hơn các thần.
25Angraeng loe lensawk moe, pakoeh han krak; sithawnawk boih pongah doeh zitthoh kue.
26Vì các thần của những dân tộc vốn là hình tượng; Còn Đức Giê-hô-va dựng nên các từng trời.
26Prae kalah kaminawk ih sithaw loe sakcop ih krang rumram tok ni; toe Angraeng mah loe vannawk to sak.
27ỳ trước mặt Ngài có sự vinh hiển, oai nghi; Tại nơi Ngài ngự có quyền năng và sự vui vẻ,
27Anih hmaa ah lensawkhaih hoi pakoehhaih to oh moe, anih ohhaih ahmuen ah loe anghoehaih hoi thacakhaih to oh.
28Hỡi các dòng của muôn dân, Khá tôn Đức Giê-hô-va vinh hiển và quyền năng;
28Angraeng khaeah paek oh, prae boih ih canawknawk, Angraeng khaeah lensawkhaih hoi thacakhaih to paek oh.
29Khá tôn Đức Giê-hô-va vinh hiển xứng đáng danh Ngài, Đem lễ vật đến trước mặt Ngài; hãy mặc lấy trang sức thánh khiết mà thờ lạy Đức Giê-hô-va.
29Angraeng ih ahmin loe lensawk, tiah thui oh; a hmaa ah angzo oh loe, hmuen to paek oh; ciimcai hmuen hoiah Angraeng to saphaw oh.
30Hỡi khắp thiên hạ, khá run sợ trước mặt Ngài. Thế giới cũng được vững bền, không sao lay động.
30Long boih, a hmaa ah tasoeh oh; long loe kacakah angdoe tih, angthui mak ai.
31Các từng trời hãy vui mừng, trái đất khá hỉ lạc; Còn trong các nước người ta đáng nói: Đức Giê-hô-va quản trị!
31Vannawk anghoe o nasoe loe, long doeh anghoe nasoe; prae kaminawk boih khaeah, Angraeng mah uk, tiah thui o nasoe.
32Biển và mọi vật ở trong phải dội tiếng lớn lên; Đồng nội và vạn vật trong nó đều khá vui vẻ!
32Tuipui hoi a thungah kaom hmuennawk mah lok tacawt o sak nasoe loe, lawk thungah kaom hmuennawk boih, anghoe o nasoe.
33Bấy giờ các cây cối trong rừng sẽ hát mừng rỡ trước mặt Đức Giê-hô-va; Vì Ngài đến đặng xét đoán thế gian.
33Anih loe long lokcaek hanah angzoh pongah, taw ih thingnawk mah laa to sah o tih.
34Hãy cảm tạ Đức Giê-hô-va, vì Ngài là nhân từ; Sự thương xót Ngài còn đến đời đời.
34Angraeng loe hoih pongah, anih khaeah anghoehaih lok to thui oh; anih tahmenhaih loe dungzan khoek to cak.
35Hãy nói: Hỡi Đức Chúa Trời, Đấng chửng cứu chúng tôi! xin hãy cứu rỗi chúng tôi, Hiệp chúng tôi lại, và giải thoát khỏi các nước, Để chúng tôi cảm tạ danh thánh Chúa, Và nhờ sự ngợi khen Chúa mà lấy làm được vinh.
35Kaciim na hmin to ka pakoeh o moe, nang saphawhaih ah kam oek o thai hanah, Na pahlong ah, Aw Sithaw kaicae pahlongkung! Kaicae hae nawnto amkhuengsak loe, Sithaw panoek ai kaminawk thung hoiah na pahlong ah, tiah hang oh.
36Đáng ngợi khen Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên. Từ đời đời cho đến đời đời! Cả dân sự đều đáp rằng: A-men! và ngợi khen Đức Giê-hô-va.
36Israel Angraeg Sithaw loe dungzan hoi dungzan khoek to tahamhoihaih om nasoe, tiah thuih naah, kaminawk boih mah Amen, Angraeng loe saphaw oh, tiah thuih o.
37Vậy, Đa-vít đặt A-sáp và anh em người tại đó, trước hòm giao ước của Đức Giê-hô-va, hầu cho mỗi ngày phục sự luôn luôn ở trước hòm, làm việc ngày nào theo ngày nấy.
37David mah Asaph hoi angmah ih nawkamyanawk to Angraeng lokkamhaih thingkhong hmaa ah, ni thokkruek toksak hanah caehtaak;
38Cũng đặt Ô-bết-Ê-đôm và anh em người làm kẻ giữ cửa, số được sáu mươi tám người, và Ô-bết-Ê-đôm, con trai của Giê-đu-thun, cùng Hô-sa;
38Obed-Edom loe angmah ih nawkamya qui taruk, tazettonawk to nihcae bomkung ah oh o sak moe, Jeduthun capa Obed-Edom hoi Hosah loe khongkha toepkung ah oh hoi.
39lại đặt thầy tế lễ cả Xa-đốc và anh em người, là những thầy tế lễ ở trước đền tạm của Đức Giê-hô-va, tại nơi cao trong Ga-ba-ôn,
39David mah qaima Zadok hoi angmah ih nawkamya qaimanawk to, Gibeon ih hmuensang hoi Angraeng ih kahni im ah caehtaak,
40đặng sớm mai và chiều hằng dâng những của lễ thiêu cho Đức Giê-hô-va, tại trên bàn thờ của lễ thiêu, tùy theo các điều chép trong luật pháp của Đức Giê-hô-va, mà Ngài đã truyền dạy cho Y-sơ-ra-ên;
40Angraeng khaeah aduem akhawn, hmaicam nuiah hmai angbawnhaih to sak moe, Israel kaminawk khaeah paek ih, cabu thungah tarik tangcae Angraeng ih kaalok baktih toengah, angbawnhaih sak o poe hanah a caehtaak.
41với chúng có đặt Hê-man, Giê-đu-thun, và những người đã được chọn khác, gọi từng danh, đặng ngợi khen Đức Giê-hô-va, vì sự thương xót Ngài còn đến đời đời;
41Angraeng tahmenhaih loe dungzan khoek to cak pongah, Angraeng khaeah anghoehaih lawkthuih hanah, nihcae hoi nawnto kaom kaminawk hoi nawnto Heman hoi Jeduthun pacoengah, qoih moe, ahmin lak ih kaminawk doeh oh o;
42còn Hê-man và Giê-đu-thun cầm những kèn và chập chỏa để làm nó vang dầy lên, cùng các nhạc khí dùng về bài ca hát của Đức Chúa Trời; các con trai của Giê-đu-thun thì đứng tại nơi cửa.
42Heman hoi Jeduthun loe mongkah, cingceng hoi Sithaw ih katoeng kruekhaih bangah toksahkung ah oh hoi. Jeduthun ih caanawk loe khongkha toepkung ah oh o.
43Cả dân sự đều đi, mỗi người trở về nhà mình; còn Đa-vít trở về đặng chúc phước cho nhà người.
43To pacoengah kaminawk boih angmacae im ah amlaem o; to tiah David doeh angmah ih imthung takoh tahamhoihaih paek hanah amlaem toeng.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.