Авакум 3
Daničić–Karadžić Bible (1868), CyrillicTranslation
Daničić–Karadžić Bible (1868), Cyrillic
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Молитва пророка Авакума; за певање.
1Lời cầu nguyện của đấng tiên tri Ha-ba-cúc, về thể thi ca.
2Господе, чух реч Твоју, и уплаших се; Господе, дело своје усред година сачувај у животу, усред година објави га, у гневу сети се милости.
2Hỡi Đức Giê-hô-va! Tôi đã nghe danh tiếng Ngài thì tôi sợ hãi. Hỡi Đức Giê-hô-va! xin Ngài lại khiến công việc Ngài dấy lên giữa các năm, Tỏ ra cho biết giữa các năm; Khi Ngài đang giận, xin hãy nhớ lại sự thương xót!
3Бог дође од Темана и Светац с горе Фарана; слава Његова покри небеса и земља се напуни хвале Његове.
3Đức Chúa Trời đến từ Thê-man, Đấng Thánh đến từ núi Pha-ran. Vinh hiển Ngài bao phủ các từng trời, Đất đầy sự khen ngợi Ngài.
4Светлост Му беше као сунце, зраци излажаху Му из руку, и онде беше сакривена сила Његова.
4Sự chói rạng của Ngài như ánh sáng, Những tia sáng ra từ tay Ngài, Quyền năng Ngài giấu trong nơi đó.
5Пред Њим иђаше помор, и живо угљевље иђаше испод ногу Његових.
5Oân dịch đi trước mặt Ngài, Tên lửa ra nơi chân Ngài.
6Стаде, и измери земљу, погледа и разметну народе, распадоше се вечне горе, слегоше се хумови вечни; путеви су Му вечни.
6Ngài đứng và đo đất; Ngài nhìn xem, làm tan tác các dân tộc; Các núi hằng còn đều tan nát, Các đồi đời đời đều quì xuống: Các đường lối Ngài giống như thuở xưa.
7Видех шаторе етиопске у муци, устрепташе завеси земљи мадијанској.
7Ta thấy những trại của Cu-san bị hoạn nạn, Những màn cháng của đất Ma-đi-an lung lay.
8Еда ли се на реке разгневи Господ? Еда ли се на реке распали гнев Твој? На море јарост Твоја, кад си појездио на коњима својим и на колима својим за спасење?
8Có phải Đức Giê-hô-va nổi giận nghịch cùng các sông chăng? Cơn giận Ngài có phải nổi lên nghịch cùng các sông chăng? Có phải sự thạnh nộ Ngài nổi lên nghịch cùng biển, Khi Ngài cỡi ngựa cỡi xe đặng giải cứu chăng?
9Помоли се лук Твој као што си се заклео племенима; раздро си земљу за реке.
9Cung Ngài ra khỏi bao; Lời thề cùng các chi phái là lời chắc chắn. Ngài phân rẽ đất làm cho sông chảy ra.
10Видеше Те горе и уздрхташе, поводањ навали; бездана пусти глас свој, увис подиже руке своје.
10Các núi thấy Ngài thì đều sợ hãi; Các dòng nước chảy mạnh, Vực sâu vang tiếng, Rún biển giơ tay lên cao.
11Сунце и месец стадоше у стану свом, идоше према светлости Твоје стреле, према севању сјајног копља Твог.
11Mặt trời mặt trăng dừng lại trong nơi ở nó; Vì cớ bóng sáng của những tên Ngài, Và chớp nháng của gươm giáo Ngài chiếu ra.
12Срдито си ишао по земљи, гневно си газио народе.
12Ngài nổi giận bước qua đất; Và đang cơn thạnh nộ giày đạp các dân tộc.
13Изашао си на спасење народу свом, на спасење с помазаником својим; размрскао си главу кући безбожничкој до врата откривши темељ.
13Ngài đi ra đặng cứu dân mình, Đi ra đặng cứu đấng chịu xức dầu của mình; Ngài đánh thương đầu kẻ ác, phá nhà nó, Làm trần trụi nền nó cho đến cổ.
14Његовим копљима пробио си главу селима његовим кад наваљиваху као вихор да ме разаспу, радоваху се као да ће прождрети сиромаха у потаји.
14Ngài lấy giáo nó đâm đầu lính chiến nó, Chúng nó đến như trận bão đặng làm tan tác tôi; Chúng nó vui thích như nuốt kẻ bần cùng cách kín giấu.
15Ишао си по мору на коњима својим, по гомили многе воде.
15Ngài cỡi ngựa đạp trên biển, Trong đống nước lớn.
16Чух, и утроба се моја усколеба, усне ми уздрхташе на глас, у кости ми уђе трулеж, и устресох се на месту свом; како ћу почивати у дан невоље, кад дође на народ који ће га опустошити.
16Tôi đã nghe, thì thân thể tôi run rẩy, Nghe tiếng Ngài thì môi tôi rung động; Sự mục nát nhập vào xương tôi; và tôi run rẩy trong chỗ tôi, Vì tôi phải nín lặng để chờ ngày hoạn nạn, Là ngày có dân đến xâm chiếm chúng tôi.
17Јер смоква неће цвасти, нити ће бити рода на лози виновој; род ће маслинов преварити, и њиве неће дати хране, оваца ће нестати из тора, и говеда неће бити у обору.
17Vì dầu cây vả sẽ không nứt lộc nữa, Và sẽ không có trái trên những cây nho; Cây ô-li-ve không sanh sản, Và chẳng có ruộng nào sanh ra đồ ăn; Bầy chiên sẽ bị dứt khỏi ràn, Và không có bầy bò trong chuồng nữa.
18Али ћу се ја радовати у Господу, веселићу се у Богу спасења свог.
18Dầu vậy, tôi sẽ vui mừng trong Đức Giê-hô-va, Tôi sẽ hớn hở trong Đức Chúa Trời của sự cứu rỗi tôi.
19Господ је Господ сила моја, и даће ми ноге као у кошуте, и водиће ме по висинама мојим. Начелнику певачком уз жице моје.
19Đức Giê-hô-va là Chúa, là sức mạnh của tôi, Ngài làm cho chân tôi giống như chân con hươu, Khiến tôi đi trên các nơi cao của mình. (Phó cho quản phường nhạc, khảy đàn mà hát bài nầy).
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.