Habakkuk
Chapter 3

Habakkuk

Asang Khongca Bible (Eas…
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Hae loe Shigionoth nuiah Tahmaa Habakkuk lawkthuihaih ah oh.
1Lời cầu nguyện của đấng tiên tri Ha-ba-cúc, về thể thi ca.
2Aw Angraeng, na thuih ih lok to ka thaih boeh moe, ka zit: Aw Angraeng, kaicae dung ah na sak ih tok to angthasak let ah loe, kaicae ih atue thuem ah panoeksak ah; palung na phui cadoeh palungnathaih to tawn rae ah.
2Hỡi Đức Giê-hô-va! Tôi đã nghe danh tiếng Ngài thì tôi sợ hãi. Hỡi Đức Giê-hô-va! xin Ngài lại khiến công việc Ngài dấy lên giữa các năm, Tỏ ra cho biết giữa các năm; Khi Ngài đang giận, xin hãy nhớ lại sự thương xót!
3Sithaw loe Teman hoiah angzoh, Kaciim Sithaw loe Paran mae nui hoiah angzoh. Selah. A lensawkhaih mah vannawk to khuk, long loe anih pakoehhaih hoiah koi.
3Đức Chúa Trời đến từ Thê-man, Đấng Thánh đến từ núi Pha-ran. Vinh hiển Ngài bao phủ các từng trời, Đất đầy sự khen ngợi Ngài.
4Anih ih aanghaih loe ni baktiah oh, takiinawk loe a ban hoiah tacawt o: kanghawk a thacakhaih loe a ban thungah oh.
4Sự chói rạng của Ngài như ánh sáng, Những tia sáng ra từ tay Ngài, Quyền năng Ngài giấu trong nơi đó.
5A hmaa ah kasae nathaih to caeh moe, hmai kangqong nathaih mah a caehhaih to pazui.
5Oân dịch đi trước mặt Ngài, Tên lửa ra nơi chân Ngài.
6Anih loe angdoet moe, long to a tah; a khet moe, prae kaminawk to tasoehsak: dungzan ah kacak maenawk loe koih o phaeng moe, kacak maesomnawk doeh tanimh o: a caehhaih loklamnawk loe dungzan khoek to cak.
6Ngài đứng và đo đất; Ngài nhìn xem, làm tan tác các dân tộc; Các núi hằng còn đều tan nát, Các đồi đời đời đều quì xuống: Các đường lối Ngài giống như thuở xưa.
7Pacaekthlaekhaih hoi Kushan ih imnawk to ka hnuk; Midian prae pakaahaih kahni loe ang sih vak boeh.
7Ta thấy những trại của Cu-san bị hoạn nạn, Những màn cháng của đất Ma-đi-an lung lay.
8Aw Angraeng, tuipuinawk nuiah palung nang hoe ai maw? Tuipuinawk nuiah palung na phui maw? Nangmah ih hrangnawk to nang thueng moe, pahlonghaih hrang lakoknawk to nang thueng naah, tuipui nuiah palung na phui maw?
8Có phải Đức Giê-hô-va nổi giận nghịch cùng các sông chăng? Cơn giận Ngài có phải nổi lên nghịch cùng các sông chăng? Có phải sự thạnh nộ Ngài nổi lên nghịch cùng biển, Khi Ngài cỡi ngựa cỡi xe đặng giải cứu chăng?
9Na lok baktih, acaengnawk lokkamhaih baktih toengah, nangmah ih kalii to na suek coek boeh. Selah. Tuipuinawk to long hoiah na tacawtsak.
9Cung Ngài ra khỏi bao; Lời thề cùng các chi phái là lời chắc chắn. Ngài phân rẽ đất làm cho sông chảy ra.
10Maenawk mah nang ang hnuk o naah, tasoeh o; tui loe long moe, laemh boih boeh: kathuk tuipui loe hangh moe, a ban to payangh tahang.
10Các núi thấy Ngài thì đều sợ hãi; Các dòng nước chảy mạnh, Vực sâu vang tiếng, Rún biển giơ tay lên cao.
11Nang ih kampha kalii hoi kampha tayae to takhawh naah, ni hoi khrah mataeng doeh a ohhaih ahmuen ah angdoet hoi sut.
11Mặt trời mặt trăng dừng lại trong nơi ở nó; Vì cớ bóng sáng của những tên Ngài, Và chớp nháng của gươm giáo Ngài chiếu ra.
12Palungphuihaih hoiah long pum ah na caeh moe, palungphuihaih hoiah Sithaw panoek ai kaminawk to na tit.
12Ngài nổi giận bước qua đất; Và đang cơn thạnh nộ giày đạp các dân tộc.
13Nangmah ih kaminawk to pahlong moe, moithawk na nok ih kaminawk to pahlong hanah na caeh: Sethaih sah imthung takoh lu koek to nganbawh kana na paek moe, anih to tahnong hoi khok khoek to nam tuengsak. Selah.
13Ngài đi ra đặng cứu dân mình, Đi ra đặng cứu đấng chịu xức dầu của mình; Ngài đánh thương đầu kẻ ác, phá nhà nó, Làm trần trụi nền nó cho đến cổ.
14Angmah ih kalii hoiah avang thungah kaom kaminawk zaehoikung to lu ah na thunh: nihcae loe kai amrosak hanah kamhae takhi baktiah ang zoh o; nihcae anghoehaih loe amtang kaminawk tamquta hoi amrosak han ih ni oh.
14Ngài lấy giáo nó đâm đầu lính chiến nó, Chúng nó đến như trận bão đặng làm tan tác tôi; Chúng nó vui thích như nuốt kẻ bần cùng cách kín giấu.
15Nang loe nangmah ih hrangnawk hoiah tuipui maeto pacoeng maeto bangah na caeh moe, tuiphu to nang thawksak.
15Ngài cỡi ngựa đạp trên biển, Trong đống nước lớn.
16Ka thaih naah ka takpum to tasoeh; a lok pongah ka pahninawk loe angtawt o; raihaih niah kang hak thai hanah, ka huhnawk loe hmawnh moe, ka khoknawk doeh tasoeh o boeh. Kaminawk khaeah anih angzoh naah, angmah ih misatuh kaminawk mah anih to tuh o tih.
16Tôi đã nghe, thì thân thể tôi run rẩy, Nghe tiếng Ngài thì môi tôi rung động; Sự mục nát nhập vào xương tôi; và tôi run rẩy trong chỗ tôi, Vì tôi phải nín lặng để chờ ngày hoạn nạn, Là ngày có dân đến xâm chiếm chúng tôi.
17Thaiduet kung hoi misur kung athai ai cadoeh; Olive thaih athai ai moe, lawk ah cang tacawt ai cadoeh; tuu khongkha thungah tuu om ai moe, moi pacahhaih imthung ah moinawk om o ai cadoeh,
17Vì dầu cây vả sẽ không nứt lộc nữa, Và sẽ không có trái trên những cây nho; Cây ô-li-ve không sanh sản, Và chẳng có ruộng nào sanh ra đồ ăn; Bầy chiên sẽ bị dứt khỏi ràn, Và không có bầy bò trong chuồng nữa.
18kai loe Angraeng ah kang hoe toengtoeng han, pahlonghaih Sithaw ah kang hoe toengtoeng han.
18Dầu vậy, tôi sẽ vui mừng trong Đức Giê-hô-va, Tôi sẽ hớn hở trong Đức Chúa Trời của sự cứu rỗi tôi.
19Angraeng Sithaw loe ka thacakhaih ah oh; anih mah ka khok hae tasuk ih khok baktiah na sah pae ueloe, kaimah ih maesang ahmuennawk ah na caehsak tih. Aqui pop katoeng hoi laasah zaehoikungnawk han ih ni.
19Đức Giê-hô-va là Chúa, là sức mạnh của tôi, Ngài làm cho chân tôi giống như chân con hươu, Khiến tôi đi trên các nơi cao của mình. (Phó cho quản phường nhạc, khảy đàn mà hát bài nầy).

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.