Habakuka
Chapter 3

Habakuka

Baibala Hemolele (Hawaii…
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1O KA pule a Habakuka, ke kaula, me ka mele lanakila.
1Lời cầu nguyện của đấng tiên tri Ha-ba-cúc, về thể thi ca.
2E Iehova, ua lohe au i ka mea au i olelo ai, a weliweli iho la au: E Iehova, e hoala hou mai oe i kau hana iwaena o na makahiki, Iwaena o na makahiki e hoike mai; Iloko o ka huhu, e hoomanao mai oe i ke aloha.
2Hỡi Đức Giê-hô-va! Tôi đã nghe danh tiếng Ngài thì tôi sợ hãi. Hỡi Đức Giê-hô-va! xin Ngài lại khiến công việc Ngài dấy lên giữa các năm, Tỏ ra cho biết giữa các năm; Khi Ngài đang giận, xin hãy nhớ lại sự thương xót!
3O ke Akua ka i hele mai, mai Temana mai, A o ka Mea Hemolele mai ka mauna o Parana mai. Sila. Uhi mai kona nani i ka lani, A ua piha ka honua i kona hoolea.
3Đức Chúa Trời đến từ Thê-man, Đấng Thánh đến từ núi Pha-ran. Vinh hiển Ngài bao phủ các từng trời, Đất đầy sự khen ngợi Ngài.
4O kona olinolino ua like me ka la, Mai kona lima mai na kukuna malamalama, A malaila ka huna ana o kona mana.
4Sự chói rạng của Ngài như ánh sáng, Những tia sáng ra từ tay Ngài, Quyền năng Ngài giấu trong nơi đó.
5Imua ona i hele aku ai ke ahulau, A o ka make wela i hele aku ma kona mau wawae.
5Oân dịch đi trước mặt Ngài, Tên lửa ra nơi chân Ngài.
6Ku ae la ia, a ana aku la i ka honua, Nana ae la ia, a hoohaalulu i na lahuikanaka; Ua hooheleleiia na mauna kahiko, A ua hoohaahaaia na puu mau loa; Oia kona mau aoao i ka wa kahiko.
6Ngài đứng và đo đất; Ngài nhìn xem, làm tan tác các dân tộc; Các núi hằng còn đều tan nát, Các đồi đời đời đều quì xuống: Các đường lối Ngài giống như thuở xưa.
7Ike aku la au i na halelewa o Kusana i ka popilikia: A haalulu na paku-halelewa o ka aina o Midiana.
7Ta thấy những trại của Cu-san bị hoạn nạn, Những màn cháng của đất Ma-đi-an lung lay.
8Ua huhu anei o Iehova i na muliwai? A ua ku e kou inaina i na kahawai? Ua maka e kou huhu i ke kai? I ka manawa au i holo ai maluna o kou mau lio, kou mau halekaa o ke ola?
8Có phải Đức Giê-hô-va nổi giận nghịch cùng các sông chăng? Cơn giận Ngài có phải nổi lên nghịch cùng các sông chăng? Có phải sự thạnh nộ Ngài nổi lên nghịch cùng biển, Khi Ngài cỡi ngựa cỡi xe đặng giải cứu chăng?
9Ua wehe loa ia kau kakaka, o na ihe ehiku, oia ka olelo. Sila. Ua hoonahae oe i ka honua me na muliwai.
9Cung Ngài ra khỏi bao; Lời thề cùng các chi phái là lời chắc chắn. Ngài phân rẽ đất làm cho sông chảy ra.
10Ike aku na mauna ia oe, haalulu iho la; A holo aku la ka wai nui, A hoopuka mai ka hohonu i kona leo, Hookiekie ae la ia i kona mau lima iluna.
10Các núi thấy Ngài thì đều sợ hãi; Các dòng nước chảy mạnh, Vực sâu vang tiếng, Rún biển giơ tay lên cao.
11O ka la, o ka mahina, ku malie ma ko laua wahi: Ma ka malamalama o kou mau pua, hele aku la lakou, A ma ka wakawaka o kau ihe huali.
11Mặt trời mặt trăng dừng lại trong nơi ở nó; Vì cớ bóng sáng của những tên Ngài, Và chớp nháng của gươm giáo Ngài chiếu ra.
12Me ka inaina i hele aku oe mawaena o ka aina, Me ka huhu i hahi iho oe i na lahuikanaka,
12Ngài nổi giận bước qua đất; Và đang cơn thạnh nộ giày đạp các dân tộc.
13Ua hele aku oe e hoola i kou poe kanaka, E hoopakele i kou mea i poniia; Ua ulupa oe i ke poo o ka mea no ka ohana hewa, Ua hoike ae i ka hohonu, A hiki i ka a-i. Sila.
13Ngài đi ra đặng cứu dân mình, Đi ra đặng cứu đấng chịu xức dầu của mình; Ngài đánh thương đầu kẻ ác, phá nhà nó, Làm trần trụi nền nó cho đến cổ.
14Ua o hou aku oe i ke poo o kona poe alii, me kana mau ihe, Holo mai lakou, me he ino la, e hoopuehu ia'u; O ko lakou olioli, ua like me ka olioli o ka luku ana i ka mea ilihune ma kahi malu.
14Ngài lấy giáo nó đâm đầu lính chiến nó, Chúng nó đến như trận bão đặng làm tan tác tôi; Chúng nó vui thích như nuốt kẻ bần cùng cách kín giấu.
15Ua hele oe iwaena o ke kai me kou poe lio, Ma ke aleale o na wai nui.
15Ngài cỡi ngựa đạp trên biển, Trong đống nước lớn.
16Lohe iho la au, a haalulu ko'u opu; Haalulu kuu lehelehe i ka leo; Komo mai ka popopo iloko o kou mau iwi, A haalulu au ma kuu wahi malalo; He oiaio, e hoomaha au i ka la o ka popilikia, A pii ku e mai na kanaka, e hoopilikia mai.
16Tôi đã nghe, thì thân thể tôi run rẩy, Nghe tiếng Ngài thì môi tôi rung động; Sự mục nát nhập vào xương tôi; và tôi run rẩy trong chỗ tôi, Vì tôi phải nín lặng để chờ ngày hoạn nạn, Là ngày có dân đến xâm chiếm chúng tôi.
17I ka manawa e pua ole mai ai ka laau fiku, Aole hoi he hua ma na kumu waina; A e mae ka hua o ka laau oliva, Aole hoi e hua mai na kihapai i ka ai; A e okiia'ku ka poe hipa mai ka pahipa aku, Aole hoi he bipi maloko o na wahi hanai bipi;
17Vì dầu cây vả sẽ không nứt lộc nữa, Và sẽ không có trái trên những cây nho; Cây ô-li-ve không sanh sản, Và chẳng có ruộng nào sanh ra đồ ăn; Bầy chiên sẽ bị dứt khỏi ràn, Và không có bầy bò trong chuồng nữa.
18E olioli no au iloko o Iehova, E hauoli no au iloko o ke Akua o kuu ola.
18Dầu vậy, tôi sẽ vui mừng trong Đức Giê-hô-va, Tôi sẽ hớn hở trong Đức Chúa Trời của sự cứu rỗi tôi.
19O Iehova ka Haku, oia ko'u ikaika, A e hoohalike mai ia i ko'u wawae, me na wawae o na dia, A e hoohele no ia ia'u maluna o kuu mau wahi kiekie. Na ka luna mele ma na mea kani.
19Đức Giê-hô-va là Chúa, là sức mạnh của tôi, Ngài làm cho chân tôi giống như chân con hươu, Khiến tôi đi trên các nơi cao của mình. (Phó cho quản phường nhạc, khảy đàn mà hát bài nầy).

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.