Mataio 9
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1E E ae la ia maluna o ka moku, holo aku la ia, a hiki aku la i kona kulanakauhale.
1Đức Chúa Jêsus xuống thuyền lại trở qua biển và đến thành mình.
2Aia hoi, hali mai la lakou io na la i kekahi mai lolo, e moe ana iluna o kahi moe, A ike aku la o Iesu i ko lakou manaoio, i aku la ia i ka mai lolo, E kuu keiki, e hoolana i kou manao, ua kalaia kon hewa.
2Nầy, có người đem lại cho Ngài một người đau bại nằm trên giường. Đức Chúa Jêsus thấy đức tin của các người đó, thì phán cùng người bại rằng: Hỡi con, hãy vững lòng, tội lỗi con đã được tha.
3Alaila, ohumu iho la kekahi poe kakauolelo iloko o lakou iho, He olelo hoino ka ia nei.
3Khi ấy, có một vài thầy thông giáo đều nghĩ thầm rằng: Người nầy nói lộng ngôn.
4Ike iho la Iesu i ko lakou manao, ninau aku la, No ke aha la oukou e manao ino ai iloko o ko oukou naau?
4Song Đức Chúa Jêsus biết ý tưởng mấy thầy đó, thì phán rằng: Nhân sao trong lòng các ngươi có ác tưởng làm vậy?
5Mahea ka hiki pono ke olelo, Ua kalaia kou hewa, a ke olelo paha, E ala'e a e hele?
5Trong hai lời nầy: một là nói, tội lỗi ngươi đã được tha; hai là nói, ngươi hãy đứng dậy mà đi, thì lời nào dễ nói hơn?
6I ike hoi oukou, he mana no ko ke Keiki a ke kanaka e kala aku ai i na hewa ma ka honua nei, E ku ae, (wahi ana i ka mai lolo,) e lawe oe i kou wahi moe, a e hoi i kou hale.
6Vả, hầu cho các ngươi biết Con người ở thế gian có quyền tha tội, thì Ngài phán cùng người bại rằng: Hãy đứng dậy, vác lấy giường, mà trở về nhà ngươi.
7A ku ae la ia, a hoi aku la i kona hale.
7Người bại liền dậy mà trở về nhà mình.
8A ike aku la na kanaka, mahalo aku la, a hoonani aku la lakou i ke Akua, nana i haawi mai ia mana no na kanaka.
8Đoàn dân thấy phép lạ đó, thì ai nấy đều sợ hãi, và ngợi khen Đức Chúa Trời đã cho người ta được phép tắc dường ấy.
9A hele aku la o Iesu mai ia wahi aku, ike mai la ia i kekahi kanaka e noho ana ma kahi hookupu, o Mataio kona inoa; i mai la oia ia ia, E hahai mai oe ia'u. Ku ae la ia a hahai aku la ia ia.
9Đức Chúa Jêsus đã đi khỏi nơi đó rồi, thấy một người tên là Ma-thi-ơ đang ngồi tại sở thâu thuế, bèn phán cùng người rằng: Hãy theo ta. Người liền đứng dậy, mà theo Ngài.
10A i ko Iesu noho ana i ka ahaaina iloko o ka hale, aia hoi, he nui na lunaauhau a me na lawehala i hele mai, a noho pu me ia a me kana poe haumana.
10Vả, đang khi Đức Chúa Jêsus ngồi ăn tại nhà Ma-thi-ơ, có nhiều người thâu thuế cùng kẻ xấu nết đến ngồi ăn với Ngài và môn đồ Ngài.
11A ike aku la ka poe Parisaio, i mai la lakou i kana poe haumana, No ke aha la e ai pu ai ka oukou humu me na lunaauhau a me na lawehala?
11Người Pha-ri-si thấy vậy, thì nói cùng môn đồ Ngài rằng: Làm sao thầy các ngươi ngồi ăn chung với người thâu thuế và kẻ xấu nết vậy?
12Lohe ae la o Iesu, i aku la oia ia lakou, Aole no ka poe ola ke kahuna lapaau, no ka poe mai no ia.
12Đức Chúa Jêsus nghe điều đó, bèn phán rằng: Chẳng phải là người khỏe mạnh cần thầy thuốc đâu, song là người có bịnh.
13E hele hoi oukou e ao i ke ano o keia, o ke aloha ko'u makemake, aole ka mohai: ua hele mai nei au e ao aku i ka poe hewa e mihi, aole i ka poe pono.
13Hãy đi, và học cho biết câu nầy nghĩa là gì: Ta muốn sự thương xót, nhưng chẳng muốn của lễ. Vì ta đến đây không phải để kêu kẻ công bình, song kêu kẻ có tội.
14Alaila, hele mai la na haumana a Ioane io na la, i mai la, Ke hookeai pinepine nei makou a me ka poe Parisaio, heaha hoi ka mea e hookeai ole ai kau poe haumana?
14Khi ấy, các môn đồ của Giăng đến tìm Đức Chúa Jêsus, mà thưa rằng: Cớ sao chúng tôi và những người Pha-ri-si kiêng ăn, còn môn đồ thầy không kiêng ăn?
15I aku la Iesu ia lakou, E hiki anei i na keiki o ke kanemare ke kaniuhu, i ka wa e noho pu ai ia me lakou? E hiki mai ana ka manawa e laweia'ku ai ke kanemare mai o lakou aku, ilaila lakou e hookeai ai.
15Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Trong khi chàng rể còn ở với bạn hữu đến mừng cưới, thì những bạn hữu đó có thể nào buồn rầu được ư? Nhưng đến ngày nào chàng rể sẽ bị đem đi khỏi họ, thì họ mới kiêng ăn.
16Aole no kekahi e pinai i ka apana lole hou maluna o ka lole kahiko, o moku ka mea kahiko i ka mea hou, a nui aku ka nahae.
16Không có ai vá miếng nỉ mới vào cái áo cũ; vì nếu làm vậy, miếng nỉ mới sẽ chằng rách áo cũ, và đàng rách trở nên xấu hơn.
17Aole hoi e ukuhi na kanaka i ka waina hou maloko o na hue ili kahiko, o nahae na hue, a kahe aku ka waina, a pau na hue: aka, ukuhi no lakou i ka waina hou iloko o na hue hou, a koe pu ia mau mea i ka malamaia.
17Cũng không có ai đổ rượu mới vào bầu da cũ; nếu làm vậy thì bầu nứt, rượu chảy ra, và bầu phải hư; song ai nấy đổ rượu mới vào bầu mới, thì giữ được cả hai bề.
18I kana olelo ana ia mau mea ia lakou, aia hoi, hele mai kekahi luna, moe iho ia ia, i mai la ia ia, Ua make iho nei ka'u kaikamahine, aka, e hele mai oe, a kau i kou lima maluna ona, a e ola ia.
18Đang khi Đức Chúa Jêsus phán các điều đó, xảy có người cai nhà hội kia bước vào, quì lạy trước mặt Ngài mà thưa rằng: Con gái tôi mới chết; xin Chúa đến, đặt tay trên nó, thì nó sẽ được sống.
19Ku ae la o Iesu iluna, hahai aku la ia ia me kana poe haumana.
19Đức Chúa Jêsus bèn đứng dậy, cùng môn đồ Ngài đều đi theo người.
20Aia hoi, he wahine hee koko i na makahiki he umikumamalua, hele aku la ia mahope iho ona, a hoopa aku la i ka lepa o kona aahu:
20Nầy, có một người đàn bà mắc bịnh mất huyết đã mười hai năm, lại gần sau lưng mà rờ trôn áo Ngài.
21No ka mea, i iho la ia iloko ona, A i hoopa wale aku au i kona aahu, e ola au.
21Vì người đàn bà ấy tự nghĩ rằng: Nếu ta chỉ rờ áo Ngài, thì cũng sẽ được lành.
22Haliu ae la o Iesu, ike ae la ia ia, i aku la, E ke kaikamahine, e hoolana i kou manao: ua hoola mai kou manaoio ia oe. A ola koke iho la ua wahine la ia hora.
22Đức Chúa Jêsus xây mặt lại, thấy người đàn bà, thì phán rằng: hỡi con, hãy vững lòng, đức tin con đã làm cho con được lành. Liền trong giờ đó, người đàn bà lành bịnh.
23A hiki aku la o Iesu i ka hale o ua luna la, ike ae la ia i ka poe hookiokio, a me na kanaka e kumakena ana,
23Khi Đức Chúa Jêsus đến nhà người cai nhà hội, thấy bọn thổi sáo, và chúng làm om sòm,
24I aku la oia ia lakou, Ou hoi oukou, aole i make ke kaikamahine, ua hiamoe no. A hoowahawaha mai la lakou ia ia.
24thì phán rằng: Các ngươi hãy lui ra; con gái nhỏ nầy chẳng phải chết đâu, nhưng nó ngủ. Chúng nghe thì chê cười Ngài.
25A pau ae la ka poe kanaka i ka hookukeia iwaho, komo aku la ia iloko, lalau iho la i kona lima, a ala ae la ua kaikamahine nei.
25Bọn đó đã bị đuổi ra rồi, Ngài bèn vào, cầm lấy tay đứa gái, thì nó liền chờ dậy.
26A kaulana aku la ia mea ma ia aina a pau.
26Tin nầy đồn ra khắp cả xứ đó.
27A hele aku la o Iesu mai ia wahi aku, elua kanaka makapo i hahai ia ia, kahea mai la laua, i mai la, E ka mamo a Davida, e aloha mai oe ia maua.
27Đức Chúa Jêsus ở đó ra đi, có hai người mù theo Ngài mà kêu rằng: Hỡi con cháu vua Đa-vít, xin thương chúng tôi cùng!
28Komo ae la ia iloko o ka hale, a hele mai ua mau makapo la io na la, ninau aku la Iesu ia laua, Ke manaoio nei anei olua, e hiki no ia'u ke hana i keia mea? I aku la laua ia ia, Ae, e ka Haku.
28Khi Ngài đã vào nhà rồi, hai người mù đến; Ngài bèn phán rằng: Hai ngươi tin ta làm được điều hai ngươi ao ước sao? Họ thưa rằng: Lạy Chúa được.
29Alaila, hoopa aku la ia i ko laua mau maka, i aku la, E like me ko olua manaoio ana mai, pela e hanaia aku ai no olua.
29Ngài bèn rờ mắt hai người mà phán rằng: Theo như đức tin các ngươi, phải được thành vậy.
30Kaakaa ae la ko laua mau maka. Papa aku la Iesu ia laua, i aku la, E malama olua o ikea ia e hai.
30Mắt hai người liền mở. Đức Chúa Jêsus lấy giọng nghiêm phán rằng: Hãy giữ, đừng cho ai biết chuyện nầy.
31Aka, hele aku la laua, a hookaulaua aku la ia ia ma ia aina a puni.
31Song lúc hai người ra khỏi nhà, thì đồn danh tiếng Ngài khắp cả xứ.
32A hele aku la lakou iwaho, aia hoi, haliia mai io na la he kanaka aa, ua uluhia e ka daimonio.
32Khi đi khỏi chỗ đó, thì người ta đem tới cho Ngài một người câm bị quỉ ám.
33A mahikiia aku ka daimonio, olelo mai la ua aa la, a mahalo ae la ka poe kanaka, i ae la, Aole i ikea ka mea like me neia iwaena o ka Iseraela.
33Quỉ bị đuổi ra rồi, thì người câm nói được. Đoàn dân lấy làm lạ mà nói rằng: Không hề bao giờ thấy sự như vậy trong dân Y-sơ-ra-ên.
34Aka, olelo aku la ka poe Parisaio, Ke mahiki aku nei oia nei i na daimonio ma ke alii o na daimonio.
34Nhưng người Pha-ri-si lại nói rằng: Người nầy cậy phép chúa quỉ mà trừ quỉ.
35Kaahele ae la o Iesu ma na kulanakauhale a pau, a me na kauhale, e ao ana iloko o na halehalawai o lakou, a e hai mai ana i ka euanelio no ke aupuni, me ka hoola i na mai a pau, a me na nawaliwali a pau o na kanaka.
35Đức Chúa Jêsus đi khắp các thành, các làng, dạy dỗ trong các nhà hội, giảng tin lành nước Đức Chúa Trời, và chữa lành các thứ tật bịnh.
36A ike mai la ia i ka ahakanaka, hu ae la kona aloha ia lakou; no ka mea, ua maluhiluhi lakou, ua auwana hoi e like me na hipa kahu ole.
36Khi Ngài thấy những đám dân đông, thì động lòng thương xót, vì họ cùng khốn, và tan lạc như chiên không có kẻ chăn.
37Alaila, i mai la ia i kana poe haumana, He nui ke kihapai ai, ua hapa no nae ka poe lawehana.
37Ngài bèn phán cùng môn đồ rằng: Mùa gặt thì thật trúng, song con gặt thì ít.
38No ia mea, e noi oukou i ka Haku nana ke kihapai ai, e hoouna oia i na lawehana iloko o kana kihapai.
38Vậy, hãy cầu xin chủ mùa gặt sai con gặt đến trong mùa mình.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.