Mataio 18
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1I A manawa, hele aku la ka poe haumana io Iesu la, i aku la, Owai la ka mea nui loa iloko o ke aupuni o ka lani?
1Trong lúc đó, môn đồ lại gần Đức Chúa Jêsus, mà hỏi rằng: Ai là lớn hơn hết trong nước thiên đàng?
2Kahea aku la o Iesu i wahi keiki uuku, hooku ae la ia ia iwaenakonu o lakou,
2Đức Chúa Jêsus gọi một đứa trẻ đến, để ở giữa môn đồ,
3I mai la, He oiaio ka'u e olelo aku nei ia oukou, ina aole oukou i hoohuliia'e, a e like hoi me na keiki uuku, aole loa oukou e komo iloko o ke aupuni o ka lani.
3mà phán rằng: quả thật, ta nói cùng các ngươi, nếu các ngươi không đổi lại và nên như đứa trẻ, thì chẳng được vào nước thiên đàng đâu.
4O ka mea hoohaahaa ia ia iho e like me keia keiki, oia ka nui loa iloko o ke aupuni o ka lani.
4Vậy, hễ ai trở nên khiêm nhường như đứa trẻ nầy, sẽ là lớn hơn hết trong nước thiên đàng.
5O ka mea launa aku i kekahi keiki e like me keia no ko'u inoa, oia ke launa mai ia'u.
5Hễ ai vì danh ta chịu tiếp một đứa trẻ thể nầy, tức là chịu tiếp ta.
6Aka, o ka mea hoohihia aku i kekahi o keia poe mea uuku o ka poe manaoio mai ia'u, e aho nona ke nakinakiia ka pohaku wili palaoa ma kona a-i, a e hoopaholoia oia i kahi hohonu o ke kai.
6Song, nếu ai làm cho một đứa trong những đứa nhỏ nầy đã tin ta sa vào tội lỗi, thì thà buộc cối đá vào cổ, mà quăng nó xuống đáy biển còn hơn.
7Auwe ko ke ao nei no na hoohihia ana! E hiki io mai no na hihia; aka, auwe ke kanaka nana e hoohihia mai!
7Khốn nạn cho thế gian vì sự gây nên phạm tội! Vì sự gây nên phạm tội phải có; song khốn nạn thay cho ai là kẻ gây nên phạm tội!
8Ina e hoohibia mai kou lima a o kou wawae paha ia oe, e oki iho ia mea, a e hoolei aku; e aho nou e komo oopa oe, a mumuku paha iloko o ke ola, i ole e hoolei pu ia'ku oe me kou mau lima elua, a me na wawae elua iloko o ke ahi mau loa.
8Nếu tay hay là chân ngươi làm cho ngươi sa vào tội lỗi, hãy chặt và ném nó cho xa ngươi đi; vì thà ngươi què chân hay là cụt tay mà vào nơi hằng sống, còn hơn là đủ cả hai tay hay là hai chân mà bị quăng vào lửa đời đời.
9Ina paha e hoohihia mai kou maka ia oe, e poalo ae, a hoolei aku; e aho nou e komo makahi oe iloko o ke ola, i ole e hooleiia oe me na maka elua iloko o ke ahi o Gehena.
9Nếu con mắt ngươi làm cho ngươi sa vào tội lỗi, thì hãy móc mà ném cho xa ngươi đi; vì thà ngươi một mắt mà vào nơi hằng sống, còn hơn là đủ hai mắt mà bị quăng vào lửa địa ngục.
10E ao oukou, mai hoowahawaha mai i kekahi o keia poe mea uuku: no ka mea, ke olelo aku nei au ia oukou, e nana mau ana ko lakou poe anela i ka lani i ka helehelena o ko'u Makua i ka lani.
10Hãy giữ mình đừng khinh dể một đứa nào trong những đứa trẻ nầy; vì ta bảo các ngươi, các thiên sứ của chúng nó trên trời thường thấy mặt Cha ta, là Đấng ở trên trời.
11A ua hele mai nei ke Keiki a ke kanaka e hoola i ka mea i auwana.
11Vì Con người đã đến cứu sự đã mất.
12Heaha ko oukou manao? Ina paha hookahi haneri hipa a kekahi kanaka, a ua auwana kekahi o lakou, aole anei ia e waiho i ka poe kanaiwakumamaiwa, a hele aku ma na mauna e imi i ka mea i nalowale?
12Các ngươi tưởng thế nào? nếu người nào có một trăm con chiên, một con bị lạc mất đi, thì há chẳng để chín mươi chín con lại trên núi, mà đi kiếm con đã lạc mất sao?
13Ina paha e loaa oia ia ia, he oiaio ka'u e olelo aku nei ia oukou, ua oi aku kona olioli no ua hipa la, i ka olioli no na hipa he kanaiwakumamaiwa aole i auwana.
13Quả thật, ta nói cùng các ngươi, nếu người kiếm lại được, thì lấy làm vui mừng về con đó hơn chín mươi chín con không lạc.
14Pela hoi, aole e makemake ko oukou Makua i ka lani e lilo aku kekahi o keia poe mea uuku.
14Cũng thể ấy, Cha các ngươi ở trên trời không muốn cho một đứa nào trong những đứa trẻ nầy phải hư mất.
15Ina e hana hewa mai kou hoahanau ia oe, e hele oe e ao aku ia ia olua wale no. A i hoolohe mai oia ia oe, ua loaa ia oe kou hoahanau.
15Nếu anh em ngươi phạm tội cùng ngươi, thì hãy trách người khi chỉ có ngươi với một mình người; như người nghe lời, thì ngươi được anh em lại.
16A i hoolohe ole mai oia ia oe, e kono aku me oe i hookahi i elua paha, i maopopo ai kela olelo keia olelo ma ka waha o na mea ike maka elua a ekolu paha.
16Ví bằng không nghe, hãy mời một hai người đi với ngươi, hầu cứ lời hai ba người làm chứng mà mọi việc được chắc chắn.
17Ina paha e hoolohe ole kela ia laua, alaila, e hai aku ia mea i ka ekalesia; a ina paha e hoolohe ole ia i ka ekalesia no hoi, e hoohalike oe ia ia me ke kanaka e, a me ka lunaauhau.
17Nếu người không chịu nghe các người đó, thì hãy cáo cùng Hội thánh, lại nếu người không chịu nghe Hội thánh, thì hãy coi người như kẻ ngoại và kẻ thâu thuế vậy.
18He oiaio ka'u e olelo aku nei ia oukou, O na mea a oukou e hoopaa ai ma ka honua nei, e hoopaaia hoi lakou ma ka lani; a o na mea a oukou e kala ai ma ka honua nei, e kalaia no hoi lakou ma ka lani.
18Quả thật, ta nói cùng các ngươi, hễ điều gì mà các ngươi buộc ở dưới đất thì cũng sẽ buộc ở trên trời, và điều gì mà các ngươi mở ở dưới đất thì cũng sẽ mở ở trên trời.
19Eia hou, Ke olelo aku nei hoi au ia oukou, ina paha elua o oukou ma ka honua nei e manao like i kekahi mea a laua e noi ai, e haawiia'ku hoi ia na laua e ko'u Makua i ka lani.
19Quả thật, ta lại nói cùng các ngươi, nếu hai người trong các ngươi thuận nhau ở dưới đất mà cầu xin không cứ việc chi, thì Cha ta ở trên trời sẽ cho họ.
20No ka mea, ma kahi e halawai ai na mea elua a ekolu paha ma ko'u inoa, malaila hoi au iwaena pu me lakou.
20Vì nơi nào có hai ba người nhân danh ta nhóm nhau lại, thì ta ở giữa họ.
21Alaila, hele aku la o Petero io na la, i aku la, E ka Haku, ehia na hana hewa ana mai a ko'u hoahanau ia'u, a kala aku au ia ia? ehiku anei?
21Phi-e-rơ bèn đến gần Đức Chúa Jêsus mà hỏi rằng: Thưa Chúa, nếu anh em tôi phạm tội cùng tôi, thì sẽ tha cho họ mấy lần? Có phải đến bảy lần chăng?
22Olelo mai la o Iesu ia ia, Ke i aku nei au ia oe, Aole ehiku wale no; aka, he kanahiku hiku.
22Ngài đáp rằng: Ta không nói cùng ngươi rằng: đến bảy lần đâu, nhưng đến bảy mươi lần bảy.
23No ia mea, ua like ke aupuni o ka lani me kekahi alii, ka i manao iho e olelo hoakaka me kana poe kauwa no ka lakou aie ana.
23Vậy nên, nước thiên đàng giống như vua kia, muốn tính sổ với các đầy tớ mình.
24I ka hoomaka ana e hoakaka ai, ua kaiia mai kekahi mea aie io na la, he umi tausani na talena kana i aie ai.
24Khi vua khởi soát sổ, thì có người đem nộp một tên kia mắc nợ vua một vạn ta-lâng.
25Aole hoi ana mea e uku aku ai; kauoha aku la kona haku e kuai lilo ia'ku oia me kana wahine, a me kana mau keiki, a me kana mea a pau loa, i loaa'i ka uku.
25Bởi vì người chẳng có gì mà trả, thì chủ dạy bán người, vợ con và gia tài người, đặng trả nợ.
26Moe iho la ua kauwa la, hoomaikai aku la ia ia, i aku la, E ka haku, e ahonui mai oe ia'u, a e uku aku au ia oe ia mea a pau loa.
26Kẻ đầy tớ nầy bèn sấp mình xuống nơi chân chủ mà xin rằng: Thưa chủ, xin giãn cho tôi, thì tôi sẽ trả hết!
27Aloha mai la ka haku i ua kauwa la, kuu mai la ia ia, a kala mai la i kana aie.
27Chủ bèn động lòng thương xót, thả người về, và tha nợ cho.
28Hele aku la ua kauwa la iwaho, a halawai me kekahi hoakauwa ona, i aie mai i kana i hookahi haneri denari, lalau aku la ia ia, a umi iho la i kona a-i, i aku la, E uku mai oe ia'u i kau mea i aie.
28Nhưng khi đầy tớ đó ra về, gặp một người trong bạn làm việc, có thiếu mình một trăm đơ-ni-ê, thì nắm bóp cổ bạn mà nói rằng: Hãy trả nợ cho ta!
29Moe iho la kona hoakauwa ma kona wawae, noi mai la ia ia, i mai la, E ahonui mai oe ia'u, a e uku aku au ia oe ia mea a pau loa.
29Người bạn sấp mình xuống mà nài xin rằng: Xin giãn cho tôi, thì tôi sẽ trả cho anh.
30Aole ia i ae aku; aka, hele aku la ia, a hoolei aku la ia ia iloko o ka halepaahao, a pau loa ka aie i ka ukuia.
30Song người chẳng khứng, cứ việc bắt bỏ tù cho đến khi trả hết nợ.
31A ike ae la kona mau hoakauwa i ka mea ana i hana'i, minamina loa iho la lakou; a hele lakou, hai aku la i ko lakou haku i na mea a pau i hanaia.
31Các bạn thấy vậy, buồn lắm, đến thuật lại cùng chủ mình mọi điều đã xảy ra.
32Alaila, kahea aku la kona haku ia ia, i aku la, E ke kauwa ino, ua kala aku no au i kau aie a pau, i kou noi ana mai ia'u;
32Chủ bèn đòi đầy tớ ấy đến mà nói rằng: Hỡi đầy tớ độc ác kia, ta đã tha hết nợ cho ngươi, vì ngươi cầu xin ta;
33Aole anei i pono nou ke aloha aku i kou hoakauwa, me a'u i aloha aku ai ia oe?
33ngươi há lại chẳng nên thương xót bạn làm việc ngươi như ta đã thương xót ngươi sao?
34Huhu aku la kona haku, a haawi aku la ia ia i ka poe kiai halepaahao, a pau loa ae la kana aie i ka ukuia.
34Chủ nổi giận, phú nó cho kẻ giữ ngục cho đến khi nào trả xong hết nợ.
35Pela hoi i ko'u Makua i ka lani e hana aku ai ia oukou, ina aole oukou a pau e kala aku me ko oukou naau i na hala o ko oukou poe hoahanau.
35Nếu mỗi người trong các ngươi không hết lòng tha lỗi cho anh em mình, thì Cha ta ở trên trời cũng sẽ xử với các ngươi như vậy.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.