Mataio 27
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1A KAKAHIAKA ae la, kukakuka iho la ka poe kahuna nui a pau, a me ka poe lunakahiko o na kanaka, i ka mea o make ai o Iesu.
1Đến sáng mai, các thầy tế lễ cả và các trưởng lão trong dân hội nghị nghịch cùng Đức Chúa Jêsus để giết Ngài.
2Hikiikii iho la lakou ia ia, kai aku la ia ia, a haawi aku la ia Ponetio Pilato ke kiaaina.
2Khi đã trói Ngài rồi, họ đem nộp cho Phi-lát, là quan tổng đốc.
3Alaila, ike ae la o Iuda nana ia i kumakaia aku, ua hoohewaia o Iesu e make, mihi iho la ia, hoihoi aku la ia i na moni he kanakolu i ka poe kahuna nui a me na lunakahiko,
3Khi ấy, Giu-đa, là kẻ đã phản Ngài, thấy Ngài bị án, thì ăn năn, bèn đem ba chục miếng bạc trả cho các thầy tế lễ cả và các trưởng lão,
4I aku la, Ua hewa wau i kuu kumakaia ana aku i ke koko hala ole. I mai la lakou, Heaha ia ia makou? Ia oe aku no ia mea.
4mà nói rằng: Tôi đã phạm tội vì nộp huyết vô tội! Song họ đáp rằng: Sự đó can gì đến chúng ta? Mặc kệ ngươi.
5Hoolei iho la ia i na moni ilalo, maloko o ka luakini, haalele aku la a hele, a kaawe iho la ia ia iho.
5Giu-đa bèn ném bạc vào đền thờ, liền trở ra, đi thắt cổ.
6Lawe ae la ka poe kahuna nui i ua mau moni la, i ae la, Aole pono ke waiho aku ia mea me na moni laa; no ka mea, o ke kumu keia i kuai ai i ke koko.
6Nhưng các thầy tế lễ cả lượm bạc và nói rằng: Không có phép để bạc nầy trong kho thánh, vì là giá của huyết.
7Kukakuka iho la lakou, a kuai aku la me ia mau mea i ka aina o ka potera, i wahi e kanu ai i na malihini.
7Rồi họ bàn với nhau dùng bạc đó mua ruộng của kẻ làm đồ gốm để chôn những khách lạ.
8No ia mea, ua kapaia ua aina la, ka aina koko, a hiki i neia manawa.
8Nhân đó, ruộng ấy đến nay còn gọi là “ruộng huyết.”
9Ilaila i ko ai ka olelo a ke kaula a Ieremia, i i mai ai, Ua lawe aku lakou i na moni he kanakolu, ke kumukuai no ka mea i kuaiia, ka mea a ka poe mamo a Iseraela i kuai ai;
9Bấy giờ được ứng nghiệm lời đấng tiên tri Giê-rê-mi đã nói rằng: Họ lấy ba chục bạc, là giá của Đấng đã bị định bởi con cái Y-sơ-ra-ên,
10A haawi aku la lakou ia mau mea no ka aina o ka potera, e like me ka ka Haku i kauona mai ai ia'u.
10và đưa bạc ấy mà mua ruộng của kẻ làm đồ gốm y như lời Chúa đã truyền cho ta.
11Ku ae la o Iesu imua o ke kiaaina, ninau mai la ke kiaaina ia ia, i mai la. O oe no anei ke alii o ka poe Iudaio? I aku la Iesu ia ia, Oia no kau i olelo mai la.
11Đức Chúa Jêsus đứng trước quan tổng đốc, quan hỏi rằng: Có phải ngươi là Vua của dân Giu-đa không? Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Thật như lời.
12Ia ia i ahewaia'i e ua kahuna nui a me na lunakahiko, aole ia i olelo iki aku.
12Trong lúc các thầy tế lễ cả và các trưởng lão kiện Ngài, Ngài không đối đáp gì hết.
13Alaila, i mai la o Pilato ia ia, Aole anei oe e lohe ia mau mea he nui wale a lakou e hoike mai nei nou?
13Phi-lát bèn nói cùng Ngài rằng: Họ có nhiều điều làm chứng kiện ngươi, ngươi há không nghe đến sao?
14Aole hoi oia i olelo iki aku ia ia, a kahaha nui iho la ke kiaaina.
14Song Đức Chúa Jêsus không đáp lại một lời gì, đến nỗi làm cho quan tổng đốc lấy làm lạ lắm.
15Ia ahaaina he mea mau no i ke kiaaina ke kuu aku i kekahi paahao no na kanaka, i ka mea a lakou i makemake ai.
15Phàm đến ngày lễ Vượt qua, quan tổng đốc thường có lệ tha một tên tù tùy ý dân muốn.
16He paahao kaulana ia lakou ia manawa, o Baraba ka inoa.
16Đang lúc ấy, có một tên phạm nổi tiếng, tên là Ba-ra-ba.
17A akoakoa mai la lakou, ninau aku la o Pilato ia lakou, Owai ka oukou e makemake nei e kala aku au no oukou, o Baraba anei, a o Iesu anei i kapaia ka Mesia?
17Khi chúng đã nhóm lại, thì Phi-lát hỏi rằng: Các ngươi muốn ta tha người nào, Ba-ra-ba hay là Jêsus gọi là Christ?
18No ka mea, ua ike iho la ia, no ka huahua i hoopea aku ai lakou ia ia.
18Vì quan ấy biết bởi lòng ghen ghét nên chúng đã nộp Ngài.
19A i kona noho ana ma ka noho hookolokolo, hoouna mai la kana wahine io na la, i mai la, Mai mea iki aku oe i ua kanaka hala ole la; no ka mea, ua kaumaha loa wau nona i keia la ma ka moeuhane.
19Quan tổng đốc đang ngồi trên tòa án, vợ người sai thưa cùng người rằng: Đừng làm gì đến người công bình đó; vì hôm nay tôi đã bởi cớ người mà đau đớn nhiều trong chiêm bao.
20Aka, hookonokono aku la ka poe kahuna nui a me ka poe lunakahiko i na kanaka, e noi mai ia Baraba, a e pepehi ia Iesu.
20Song các thầy tế lễ cả và các trưởng lão dỗ chúng hãy xin tha Ba-ra-ba và giết Đức Chúa Jêsus
21Olelo aka la ke kiaaina, i aku la ia lakou, Owai ko oukou mea makemake o laua nei, e kuu aku ai au no oukou? I mai la lakou, O Baraba.
21Quan tổng đốc cất tiếng hỏi rằng: Trong hai người nầy, các ngươi muốn ta tha ai? Chúng thưa rằng: Ba-ra-ba.
22Ninau aku la o Pilato ia lakou, Heaha hoi ka'u e hana aku ai ia Iesu, i kapaia ka Mesia? I mai la lakou a pau ia ia, E kaulia ia ma ke kea.
22Phi-lát nói rằng: Vậy, còn Jêsus gọi là Christ, thì ta sẽ xử thế nào? Chúng đều trả lời rằng: Đóng đinh nó trên cây thập tự!
23Ninau aku la ke kiaaina, No ke aha? Heaha ka hewa ana i hana'i? A nui loa ae la ka lakou uwa ana mai, i mai, E kaulia ma ke kea.
23Quan hỏi: Song người nầy đã làm việc dữ gì? Chúng lại kêu la lớn hơn rằng: Đóng đinh nó trên cây thập tự!
24Ike ae la o Pilato, aole e hiki kana, aka, he nui loa ka haunaele ana mai, lalau aka la ia i ka wai, a holoi iho la i kona mau lima imus o ka poe kanaka, i aku la, Aohe o'u hala i ke koko o keia kanaka pono: ia oukou aku no ia.
24Phi-lát thấy mình không thắng nổi chi hết, mà sự ồn ào càng thêm, thì lấy nước rửa tay trước mặt thiên hạ, mà nói rằng: Ta không có tội về huyết của người nầy; điều đó mặc kệ các ngươi.
25Olelo mai la ka poe kanaka a pau, Iluna iho o makou kona koko, iluna hoi o ka makou kamalii.
25Hết thảy dân chúng đều đáp rằng: Xin huyết người lại đổ trên chúng tôi và con cái chúng tôi!
26Alaila, kuu ae la ia ia Baraba no lakou: aka, hahau aku la oia ia Iesu, a haawi aku la ia ia e kaulia'i ma ke kea.
26Phi-lát bèn tha tên Ba-ra-ba cho chúng; và khiến đánh đòn Đức Chúa Jêsus, đoạn giao Ngài ra để đóng đinh trên cây thập tự.
27Alaila, kai aku la ka poe koa o ke kiaaina ia Iesu iloko o kahi hookolokolo, a hoaluulu mai la lakou i ka poe koa a pau io na la.
27Lính của quan tổng đốc bèn đem Đức Chúa Jêsus vào công đường, và nhóm cả cơ binh vây lấy Ngài.
28Wehe ae la lakou i kona kapa, a kahiko iho la ia ia i ka aahu ulaula.
28Họ cổi áo Ngài ra, lấy áo điều mà khoác cho Ngài.
29Ulana iho la lakou i leialii kakalaioa, a kau aku la ia maluna o kona poo, a me ka ohe ma kona lima akau; kukali iho la imua ona, hoomaewaewa aku la lakou ia ia, i aku la, Aloha oe, e ke Alii o ka poe Iudaio!
29Đoạn, họ đương một cái mão gai mà đội trên đầu, và để một cây sậy trong tay hữu Ngài; rồi quì xuống trước mặt Ngài mà nhạo báng rằng: Lạy Vua của dân Giu-đa.
30A kuhaaku la lakou ia ia, lalau aku hoi i ka ohe, a hahau aku la hoi i kona poo.
30Họ nhổ trên Ngài, và lấy cây sậy đánh đầu Ngài.
31A pau ko lakou hoomaewaewa ana ia ia, wehe ae la lakou i ua aahu la, a hoaahu ae la ia ia i kona aahu, a kai aku la ia ia e kaulia'i ma ke kea.
31Khi đã nhạo báng Ngài rồi, thì họ cổi áo điều ra mà mặc áo của Ngài lại, rồi đem Ngài đi đóng đinh trên cây thập tự.
32I ko lakou hele ana iwaho, loaa iho la ia lakou kekahi kanaka no Kurene, o Simona kona iona; koi aku la lakou ia ia e amo i kona kea.
32Khi họ đi ra, gặp một người ở thành Sy-ren tên là Si-môn; thì bắt người vác cây thập tự của Đức Chúa Giê-xu.
33A hiki aku la lakou i kahi i kapaia o Gologota, oia hoi keia i hoikeia, he wahi iwipoo,
33Đã đi tới một chỗ gọi là Gô-gô-tha, nghĩa là chỗ cái Sọ,
34Haawi aku la lakou i ka vinega i kawili pu ia me ka laau awaawa, e inu; a i ka hoao ana iho, aole ia i makemake e inu.
34họ cho Ngài uống rượu trộn với mật đắng; song Ngài nếm, thì không chịu uống.
35Kau aku la lakou ia ia ma ke kea, a puunaue aku la i kona mau kapa, a puu iho la hoi; i ko ai ka mea i oleloia e ke kaula, Ua puunaue ae lakou i kuu mau kapa aahu no lakou, a no ko'u kapakomo ua puu no lakou.
35Họ đã đóng đinh Ngài trên cây thập tự rồi, thì bắt thăm mà chia nhau áo xống của Ngài.
36Noho iho la lakou ilaila, a kiai aku la ia ia.
36Rồi họ ngồi đó mà canh giữ Ngài.
37Kau aka la lakou maluna ae o kona poo i ka palapala o kona ahewa ana, O IESU KEIA, KE ALII O KA POE IUDAIO.
37Phía trên đầu Ngài họ để cái bảng đề chữ chỉ về án Ngài, rằng: Người Nầy Là Jêsus, Vua Dân Giu-đa.
38Elua hoi kanaka powa i kaulia pu me ia ma ke koa, ma ka lima akau kekahi, ma ka lima hema hoi kekahi.
38Cũng lúc đó, họ đóng đinh hai tên trộm cướp với Ngài, một tên ở cây thập tự bên hữu, một tên ở cây thập tự bên tả.
39O ka poe maalo ae, kuamuamu aku la lakou ia ia, e hooluliluli ana i ko lakou poo,
39Những kẻ đi ngang qua đó chê cười Ngài, lắc đầu,
40Me ka i ana, O oe ka mea nana e wawahi i ka luakini, a hooku hou ae i na la ekolu, e hoola oe ia oe iho. A o ke Keiki oe a ke Akua, e iho mai oe ilalo mailuna mai o ke kea.
40mà nói rằng: Ngươi là kẻ phá đền thờ và dựng lại trong ba ngày, hãy cứu lấy mình đi! Nếu ngươi là Con Đức Chúa Trời, hãy xuống khỏi cây thập tự!
41Hoomaewaewa aku la no hoi ka poe kahuna nui, me ka poe kakauolelo, a me ka poe lunakahiko, i aku la,
41Các thầy tế lễ cả, các thầy thông giáo và các trưởng lão cũng nhạo Ngài rằng:
42Ua hoola kela ia hai, aole ka e hiki ia ia ke hoola ia ia iho. A o ke alii ia no ka Iseraela, e iho iho ia ilalo mai ke kea mai, a o manaoio aku makou ia ia.
42Nó đã cứu kẻ khác mà cứu mình không được. Nếu phải Vua dân Y-sơ-ra-ên, bây giờ hãy xuống khỏi cây thập tự đi, thì chúng ta mới tin.
43Ua paulele aku no ia i ke Akua, a ina makemake mai ke Akua ia ia, e hoola mai kela ia ia ano; no ka mea, ua olelo mai no ia, Owau no ke Keiki a ke Akua.
43Nó nhờ cậy Đức Chúa Trời; nếu Đức Chúa Trời yêu nó thì bây giờ Ngài phải giải cứu cho, vì nó đã nói rằng: Ta là Con Đức Chúa Trời.
44Pela mai no hoi na powa e kau pu ana me ia, hoine mai la ia ia.
44Hai tên trộm cướp bị đóng đinh trên cây thập tự với Ngài cũng nhiếc móc Ngài như vậy.
45Mai ka hora aono a hiki i ka hora aiwa, ua pouli ka honua a pau.
45Từ giờ thứ sáu đến giờ thứ chín, khắp cả xứ đều tối tăm mù mịt.
46A i ka iwa o ka hora, kahea aku la o Iesu me ka leo nui, i aku la, Eli, Eli, lama sabaketani? oia hoi keia, E kuu Akua, e kuu Akua: no ke aha la oe i haalele mai ai ia'u?
46Ước chừng giờ thứ chín, Đức Chúa Jêsus kêu tiếng lớn lên rằng: Ê-li, Ê-li, lam-ma sa-bách-ta-ni? nghĩa là: Đức Chúa Trời tôi ơi! Đức Chúa Trời tôi ơi! sao Ngài lìa bỏ tôi?
47A lohe ae la kekahi poe o lakou e ku ana malaila, i mai la lakou, Ke kahea aku nei oia ia Elia.
47Có mấy người đứng đó, nghe kêu, thì nói rằng: Nó kêu Ê-li.
48Holo koke aku la kekahi o lakou, lalau ae la i ka huahuakai, hoou iho la i ka vinega, kau aku la ia ma ka ohe, a haawi aku la ia ia e inu.
48Liền có một người trong bọn họ chạy lấy một miếng bông đá, và thấm đầy dấm, để trên đầu cây sậy mà đưa cho Ngài uống.
49I mai la kekahi poe, Alia, a ike kakou, e hele mai paha o Elia e hoola ia ia.
49Nhưng kẻ khác thì lại nói rằng: Hãy để vậy, coi thử có Ê-li đến giải cứu nó chăng.
50Kahea hou aku la o Iesu me ka leo nui, alaila kuu aku la ia i ka uhane.
50Đức Chúa Jêsus lại kêu lên một tiếng lớn nữa, rồi trút linh hồn.
51Aia hoi, nahae iho la ka paku o ka luakini iwaena, mailuna a hala ilalo: naueue ae la ka honua, naba'e la hoi na pobaku.
51Và nầy, cái màn trong đền thờ, bị xé ra làm hai từ trên chí dưới, đất thì rúng động, đá lớn bể ra,
52Hamama ae la na halekupapau, a he nui na haipule e hiamoe ana i ala hou mai,
52mồ mả mở ra, và nhiều thây của các thánh qua đời được sống lại.
53A hele mai la iwaho o na halekupapau mahope iho o kona ala hou ana mai, a komo aku la iloko o ke kulanakauhale hoano, a ua ikea e na mea he nui loa.
53Sau khi Đức Chúa Jêsus đã sống lại, các thánh đó ra khỏi mồ mả, đi vào thành thánh, và hiện ra cho nhiều người thấy.
54A ike ae la ka lunahaneri, a o na mea me ia e kiai ana ia Iesu i ke olai, a me na mea i hanaia, makau loa iho la lakou, i ae la, He oiaio no, o ke Keiki no keia a ke Akua!
54Thầy đội và những lính cùng với người canh giữ Đức Chúa Jêsus, thấy đất rúng động và những điều xảy đến, thì sợ hãi lắm, mà nói rằng: Thật người nầy là Con Đức Chúa Trời.
55He nui no hoi ka poe wahine ma kahi mamao aku, e makaikai mai ana; na lakou i ukali ia Iesu mai Galilaia mai e lawelawe ana nana.
55Vả, có nhiều người đàn bà đứng coi ở đàng xa, là người đã đi theo Đức Chúa Jêsus từ xứ Ga-li-lê để hầu việc Ngài.
56Me lakou pu o Maria no Magedala, a o Maria ka makuwahine o Iakoba laua o Iose, a me ka makuwahine o na keiki a Zebedaio.
56Trong những đàn bà đó có Ma-ri Ma-đơ-len, Ma-ri, mẹ của Gia-cơ và Giô-sép, và mẹ hai con trai của Xê-bê-đê.
57A ahiahi ae la, hele mai la kekahi kanaka waiwai no Arimataia, o Iosepa kona inoa, he haumana hoi ia na Iesu.
57Đến chiều tối, có một người giàu, ở thành A-ri-ma-thê, tên là Giô-sép, chính là một môn đồ của Đức Chúa Jêsus,
58Hele aku la ia io Pilato la, a noi aku la i ke kino o Iesu. Alaila kauoha aku la o Pilato, e haawiia mai ke kino.
58đến nơi Phi-lát mà xin xác Đức Chúa Jêsus. Phi-lát bèn truyền cho.
59Lawe ae la o Iosepa i ke kino, a wahi iho la ia ia iloko o ka lole olona maemae;
59Giô-sép lấy xác Ngài mà bọc trong tấm vải liệm trắng,
60A waiho iho la ia ia ma kona halekupapau hou i kalaiia iloko o ka pohaku: a olokaa aku la ia i pohaku nui ma ka puka o ua halekupapau la, a hoi aku la.
60và đưa để trong một cái huyệt mới mà người đã khiến đục cho mình trong hòn đá; đoạn, lăn một hòn đá lớn đến trước cửa mồ, rồi đi.
61Malaila no o Maria no Magedala, a me kekahi Maria, e noho ana ma kahi ku pono i ua halekupapau la.
61Có Ma-ri Ma-đơ-len và Ma-ri khác ở đó, ngồi đối ngang huyệt.
62I ka la mahope iho o ka la hoomalolo, hele akoakoa aku la ka poe kahuna nui a me ka poe Parisaio io Pilato la,
62Đến ngày mai (là ngày sau ngày sắm sửa), các thầy tế lễ cả và người Pha-ri-si cùng nhau đến Phi-lát
63I aku la, E ka haku, ke hoomanao nei makou, i olelo mai ua kanaka hoopunipuni la i kona wa e ola ana, A po akolu ae, e ala hou mai ana au.
63mà nói rằng: Thưa chúa, chúng tôi nhớ người gian dối nầy, khi còn sống, có nói rằng: Khỏi ba ngày thì ta sẽ sống lại.
64Nolaila, e kauoha aku oe i kiai pono ia'i ka halekupapau a hiki i ka poakolu, o hele mai ka poe haumana ana, a aihue malu ia ia, a e olelo aku i na kanaka, Ua ala mai ia mai ka make mai; a e nui loa aku ka hewa o keia hoopunipuni hope i kola mamua.
64Vậy, xin hãy cắt người canh mả cẩn thận cho đến ngày thứ ba, kẻo môn đồ nó đến lấy trộm xác đi, rồi nói với chúng rằng: Ngài đã từ kẻ chết sống lại. Sự gian dối sau đó sẽ tệ hơn sự gian dối trước.
65I mai la o Pilato ia lakou, Aia ia oukou ho poe kiai; e haele oukou, e hoopaa loa i ka hale kupapau.
65Phi-lát nói với họ rằng: Các ngươi có lính canh; hãy đi canh giữ theo ý các ngươi.
66Hele aku la lakou, hoopaa iho la i ka halekupapau, hoailona iho la i ka pohaku, a hoonoho iho la i poe kini.
66Vậy, họ đi, niêm phong mả Ngài lại, cắt lính canh giữ, lấy làm chắc chắn lắm.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.