Luka 10
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1A MAHOPE iho o keia mau mea, hoomaopopo mai la ka Haku i kekahi poe e he kanahiku, a hoouna papalua aku la oia ia lakou mamua ona, i na wahi a pau ana i manao ai e hele aku ana.
1Kế đó, Chúa chọn bảy mươi môn đồ khác, sai từng đôi đi trước Ngài, đến các thành các chỗ mà chính Ngài sẽ đi.
2Alaila olelo mai la oia ia lakou. He nui ka ai i oo, he uuku ka poe nana e ohi; nolaila e pule aku ai oukou i ka Haku o ke kihapai, e hoouna oia i poe hana e ohi i kana ai.
2Ngài phán cùng môn đồ rằng: Mùa gặt thì trúng, song con gặt thì ít. Vậy, hãy xin Chủ mùa gặt sai con gặt đến trong mùa của mình.
3E haele oukou; eia hoi ke hoouna aku nei au ia oukou me he mau keikihipa la iwaena o na iliohae.
3Hãy đi; nầy, ta sai các ngươi đi, khác nào như chiên con ở giữa bầy muông sói.
4Mai hali i aa moni, aole i kieke ai, aole hoi i kamaa; a mai uwe aku i ke kanaka ma ke alanui.
4Đừng đem túi, bao, giày, và đừng chào ai dọc đường.
5A i ka hale a oukou e komo aku ai, e olelo mua aku, Aloha keia hale.
5Hễ các ngươi vào nhà nào, trước hết hãy nói rằng: Cầu sự bình an cho nhà nầy!
6A ina ilaila ke keiki a ke aloha, alaila e waiho no ko oukou aloha maluna ona; aka, i ole, e hoi mai no ia maluna o oukou iho.
6Nếu nhà đó có người nào đáng được bình an, sự bình an của các ngươi sẽ giáng cho họ; bằng không, sẽ trở về các ngươi.
7A ma ia hale e noho ai oukou, e ai ana a e inu ana hoi i na mea a lakou e haawi mai ai; no ka mea, e pono ke ukuia mai ka paahana. Mai hele ia hale aku ia hale aku.
7Hãy ở nhà đó, ăn uống đồ người ta sẽ cho các ngươi, vì người làm công đáng được tiền lương mình. Đừng đi nhà nầy sang nhà khác.
8A o ke kulanakauhale a oukou e komo aku ai, a e hookipa mai lakou ia oukou, e ai oukou i na mea e waihoia ma ko oukou alo;
8Hễ các ngươi vào thành nào, mà người ta tiếp rước, hãy ăn đồ họ sẽ dọn cho.
9E hoola i ko laila poe mai, a e olelo aku ia lakou, ke kokoke mai nei ke aupuni o ke Akua ia oukou.
9Hãy chữa kẻ bịnh ở đó, và nói với họ rằng: Nước Đức Chúa Trời đến gần các ngươi.
10A o ke kulanakauhale a oukou e komo aku ai, aole hoi lakou e hookipa ia oukou, e hele oukou iwaho ma ko laila mau alanui, a e olelo aku;
10Song hễ các ngươi vào thành nào, họ không tiếp rước, hãy đi ra ngoài chợ, mà nói rằng:
11O ka lepo o ko oukou kulanakauhale i pili mai nei ia makou, oia ka makou e holoi aku ai no oukou; aka, e ike oukou i keia, ke kokoke mai nei ke aupuni o ke Akua ia oukou.
11Đối với các ngươi, chúng ta cũng phủi bụi của thành các ngươi đã dính chân chúng ta; nhưng phải biết nước Đức Chúa Trời đã đến gần các ngươi rồi.
12Ke olelo aku nei au ia oukou, A i kela la, e aho ko Sodoma poino ana, i ko ua kulanakauhale la.
12Ta phán cùng các ngươi, đến ngày cuối cùng, thành Sô-đôm sẽ chịu nhẹ hơn thành nầy.
13Auwe oe, e Korazina! Auwe hoi oe, e Betesaida! no ka mea, ina i hanaia iloko o Turo, a me Sidona na hana mana i hanaia iloko o olua, ina ua mihi laua mamua loa e noho ana me ke kapa ino a me ka lehu.
13Khốn cho mầy, thành Cô-ra-xin! Khốn cho mầy, thành Bết-sai-đa! Vì nếu các phép lạ đã làm giữa bay, đem làm trong thành Ty-rơ và thành Si-đôn, thì hai thành ấy đã mặc áo gai và đội tro mà ăn năn từ lâu rồi.
14Nolaila, i ka hoopai ana, e aho ko Turo a me ko Sidona i ko olua poino ana.
14Vậy, đến ngày phán xét, thành Ty-rơ và thành Si-đôn sẽ chịu nhẹ hơn bay.
15A o oe, e Kaperenauma, ka mea i hookiekieia'e i ka lani, e kiolaia uanei oe ilalo i ka po.
15Còn mầy, thành Ca-bê-na-um, mầy sẽ được nhắc lên tận trời sao? Không, sẽ bị hạ xuống tới dưới Aâm phủ!
16O ka mea e hoolohe ia oukou. oia ke hoolohe mai ia'u; a o ka mea e hoowahawaha ia oukou, oia ke hoowahawaha mai ia'u; a o ka mea e hoowahawaha mai ia'u, oia ko hoowahawaha i ka mea nana au i hoouna mai.
16Ai nghe các ngươi, ấy là nghe ta; ai bỏ các ngươi, ấy là bỏ ta; còn ai bỏ ta, ấy là bỏ Đấng đã sai ta.
17A hoi mai la ua poe kanahiku la, me ka olioli, i aku la, E ka Haku, ua hoolohe mai na daimonio ia makou ma kou inoa.
17Bảy mươi môn đồ trở về cách vui vẻ, thưa rằng: Lạy Chúa, vì danh Chúa, các quỉ cũng phục chúng tôi.
18A i mai la oia ia lakou, Ua ike au ia Satana e haule ana e like me ka uila mai ka lani mai.
18Đức Chúa Jêsus bèn phán rằng: Ta đã thấy quỉ Sa-tan từ trời sa xuống như chớp.
19Eia hoi, ke haawi aku nei au ia oukou i ka mana e hehi maluna iho o na nahesa a me na moohueloawa, a maluna o ka mana a pau o ka euemi; aole loa he mea e eha ai oukou.
19Nầy, ta đã ban quyền cho các ngươi giày đạp rắn, bò cạp, và mọi quyền của kẻ nghịch dưới chân; không gì làm hại các ngươi được.
20Mai olioli nae oukou i keia mea, i ka hoolohe ana o na uhane ia oukou; aka, e olioli oukou, no ka kakauia'na ko oukou mau inoa iloko o ka lani.
20Dầu vậy, chớ mừng vì các quỉ phục các ngươi; nhưng hãy mừng vì tên các ngươi đã ghi trên thiên đàng.
21Ia manawa, hauoli iho la o Iesu ma ka Uhane, a olelo aku la, Ke hoomaikai nei au ia oe, e ka Makua, ka Haku o ka lani a me ka honua, no ka mea, ua huna oe i keia mau mea i ka poe naauao, a me ka poe akamai, a ua hoike mai nei oe ia i na keiki hou. Oiaio no, e ka Makua, no ka mea, o ka pono no ia ia oe.
21Cũng giờ đó, Đức Chúa Jêsus nức lòng bởi Đức Thánh Linh, bèn nói rằng: Lạy Cha, là Chúa trời đất, tôi ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu những sự nầy với kẻ khôn ngoan, người sáng dạ, mà tỏ ra cho trẻ nhỏ hay! Thưa Cha, phải, thật như vậy, vì Cha đã thấy điều đó là tốt lành.
22Ua haawiia mai nei ia'u na mea a pau e ko'u Makua; aole hoi mea i ike i ke Keiki, o ka Makua wale no; a i ka Makua hoi, o ke Keiki wale no, a me ke kanaka a ke Keiki e makemake e hoike ai.
22Cha ta đã giao mọi sự cho ta; ngoài Cha không ai biết Con là ai; ngoài Con, và người nào mà Con muốn tỏ ra cùng, thì cũng không có ai biết Cha là ai.
23A haliu ae ia i ka poe haumana, olelo malu mai ia, Pomaikai na maka i ike i na mea a oukou e ike nei;
23Đoạn, Ngài xây lại cùng môn đồ mà phán riêng rằng: Phước cho mắt nào được thấy điều các ngươi thấy!
24No ka mea, ke hai aku nei au ia oukou, He nui no ka poe kaula a me na'lii i makemake e ike i na mea a oukou e ike nei, aole hoi lakou i ike; a e lohe i na mea a oukou e lohe nei, aole hoi lakou i lohe.
24Vì ta nói cùng các ngươi, có nhiều đấng tiên tri và vua chúa ước ao thấy điều các ngươi thấy, mà chẳng từng thấy, ước ao nghe điều các ngươi nghe, mà chẳng từng nghe.
25Aia hoi, ku ae la iluna kekahi kakaolelo e hoao ana ia ia, ninau aku la, E ke Kumu, heaha ka'u e hana'i i loaa mai ai ia'u ke ola mau loa?
25Bấy giờ, một thầy dạy luật đứng dậy hỏi đặng thử Đức Chúa Jêsus rằng: Thưa thầy, tôi phải làm gì để được hưởng sự sống đời đời?
26A ninau mai la oia ia ia, Heaha ka mea i kakauia'i iloko o ke kanawai? Pehea kau heluhelu ana?
26Ngài phán rằng: Trong luật pháp có chép điều gì? Ngươi đọc gì trong đó?
27Hai aku la ke kakaolelo, i aku la, E aloha aku oe i ke Haku i kou Akua me kou naau a pau, a me kou uhane a pau, a me kou ikaika a pau, a me kou manao a pau, a i kou hoalauna e like me oe iho.
27Thưa rằng: Ngươi phải hết lòng, hết linh hồn, hết sức, hết trí mà kính mến Chúa là Đức Chúa Trời ngươi; và yêu người lân cận như mình.
28I mai la oia ia ia, Ua hai pololei mai nei oe; o kau ia e hana'i, a e ola no oe.
28Đức Chúa Jêsus phán rằng: Ngươi đáp phải lắm; hãy làm điều đó, thì được sống.
29Aka, i kona makemake ana e hoapono ia ia iho, ninau aku la oia ia Iesu, Owai la hoi ko'u hoalauna?
29Song thầy ấy muốn xưng mình là công bình, nên thưa cùng Đức Chúa Jêsus rằng: Ai là người lân cận tôi?
30Olelo hou mai la o Iesu, i mai la, O kekahi kanaka e iho ana mai Ierusalema i Ieriko, a haule iho la iwaena o na powa, kaili ae la lakou i kona kapa, pepehi iho la, a haalele aku la ia ia, e waiho ana me ka aneane make.
30Đức Chúa Jêsus lại cất tiếng phán rằng: Có một người từ thành Giê-ru-sa-lem xuống thành Giê-ri-cô, lâm vào kẻ cướp, nó giựt lột hết, đánh cho mình mẩy bị thương rồi đi, để người đó nửa sống nửa chết.
31A iho no kekahi kahuna pule ma ia alanui, a ike aku la ia ia, maalo wale ae la ma kekahi aoao.
31Vả, gặp một thầy tế lễ đi xuống đường đó, thấy người ấy, thì đi qua khỏi.
32Pela no hoi kekahi pua na Levi, i kona hiki ana ma ia wahi, hele ia a nana aku la, maalo ae la ia ma kekahi aoao.
32Lại có một người Lê-vi cũng đến nơi, lại gần, thấy, rồi đi qua khỏi.
33Aka, o kekahi kanaka no Samaria, i kona hele ana, hiki aku la ia i kahi ona e waiho ana; a ike aku la ia ia, hu ae la koua aloha ia ia.
33Song có một người Sa-ma-ri đi đường, đến gần người đó, ngó thấy thì động lòng thương;
34Hele iho la io na la, a wahi iho la i kona mau eha e ninini ana i ka aila a me ka waina iloko, a kau ae la ia ia maluna o kona holoholona iho, a lawe ae la ia ia i ka halehookipa, a malama iho la ia ia.
34bèn áp lại, lấy dầu và rượu xức chỗ bị thương, rồi rịt lại; đoạn, cho cỡi con vật mình đem đến nhà quán, mà săn sóc cho.
35A ia la ae, i kona hele ana'ku, unuhi ae la ia i na denari elua, a haawi aku i ka mea nona ka hale, i aku la ia ia, E malama oe ia ia nei; a oi aku kau mea lilo, a hoi mai au, na'u e uku aku ia oe.
35Đến bữa sau, lấy hai đơ-ni-ê đưa cho chủ quán, dặn rằng: Hãy săn sóc người nầy, nếu tốn hơn nữa, khi tôi trở về sẽ trả.
36A o keia mau kanaka a ekolu, owai la ka hoalauna, i kou manao, no ke kanaka i haule iwaena o na powa?
36Trong ba người đó, ngươi tưởng ai là lân cận với kẻ bị cướp?
37Hai aku la ia, O ka mea i hana lokomaikai ia ia. I mai la o Iesu, E hele oe a e hoohalike me ia.
37Thầy dạy luật thưa rằng: Aáy là người đã lấy lòng thương xót đãi người. Đức Chúa Jêsus phán rằng: Hãy đi, làm theo như vậy.
38Eia kekahi, i ko lakou hele ana, komo aku la ia iloko o kekahi kauhale; a o kekahi wahine, o Mareta kona inoa, i hookipa ia ia i kona hale.
38Khi Đức Chúa Jêsus cùng môn đồ đi đường, đến một làng kia, có người đàn bà, tên là Ma-thê, rước Ngài vào nhà mình.
39A he kaikaina kona i kapaia o Maria, ua noho ia ma na wawae o Iesu, e hoolohe ana i kana olelo.
39Người có một em gái, tên là Ma-ri, ngồi dưới chân Chúa mà nghe lời Ngài.
40Aka o Mareta, ua paapu ia i ka lawelawe nui ana, a hele ia, a olelo aku, E ka Haku, he mea ole anei ia oe ka haalele ana mai o ko'u kaikaina ia'u e lawelawe hookahi au? Nolaila, e olelo oe ia ia e kokua mai ia ia'u.
40Vả, Ma-thê mảng lo việc vặt, đến thưa Đức Chúa Jêsus rằng: Lạy Chúa, em tôi để một mình tôi hầu việc, Chúa há không nghĩ đến sao? Xin biểu nó giúp tôi.
41Olelo mai la o Iesu, i mai la ia ia, E Mareta, e Mareta, ua nui kou manao a me kou pihoihoi, i na mea he nui;
41Chúa đáp rằng: Hỡi Ma-thê, Ma-thê, ngươi chịu khó và bối rối về nhiều việc;
42Aka, hookahi no mea e pono ai. A ua koho mai nei o Maria ia mea maikai, aole loa ia o laweia'ku mai ona aku.
42nhưng có một việc cần mà thôi. Ma-ri đã lựa phần tốt, là phần không có ai cất lấy được.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.