Luka 17
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1A LAILA olelo mai la ia i kana mau haumana, Aole loa e ole ka hiki ana mai o na hoohihia ana, aka hoi, poino ka mea e hiki mai ai ia!
1Đức Chúa Jêsus lại phán cùng môn đồ rằng: Không có thể khỏi xảy đến sự gây nên phạm tội được; song khốn thay cho ai là kẻ làm ra sự ấy!
2Ina ua kauia ka pohaku kaa palaoa ma kona a-i, a e kiolaia oia ilalo i ke kai, e aho ia i ka hoohihia ana i kekahi o keia mau mea uuku.
2Nếu ai gây cho chỉ một kẻ nhỏ nầy phạm tội, thì thà rằng buộc cối đá vào cổ nó mà quăng xuống biển còn hơn.
3E malama oukou ia oukou iho. A ina hana hewa kou hoahanau ia oe, e ao aku oe ia ia; a ina i mihi oia, e kala aku ia ia.
3Các ngươi hãy giữ lấy mình. Nếu anh em ngươi đã phạm tội, hãy quở trách họ; và nếu họ ăn năn, thì hãy tha thứ.
4A ina ehiku kana hana hewa ana ia oe i ka la hookahi, a ina ehiku kona huli ana mai ia oe i ka la hookahi, me ka olelo, Ua mihi au; e kala aku oe ia ia.
4Dầu trong một ngày, họ phạm tội cùng ngươi bảy lần và bảy lần trở lại cùng ngươi mà nói rằng: Tôi ăn năn, thì hãy tha tội cho họ.
5Alaila olelo aku la ka poe lunaolelo i ka Haku, E hoomahuahna oe i ko makou manaoio.
5Các sứ đồ thưa Chúa rằng: Xin thêm đức tin cho chúng tôi!
6I mai la hoi ka Haku, Ina he manaoio ko oukou e like me ka hua makeke, e hiki ia oukou ke olelo aku i keia laau sukamino, E hehuia'ku, a e kanu hou ia'ku i ke kai, a e hoolohe no ia ia oukou.
6Chúa đáp rằng: Nếu các ngươi có đức tin trộng bằng hột cải, các ngươi khiến cây dâu nầy rằng: Hãy nhổ đi mà trồng dưới biển, thì nó sẽ vâng lời.
7Owai kekahi o oukou he kauwa kana e mahiai ana, a e hanai holoholona ana paha, a hoi mai ia mai ka waena mai, e olelo aku, E hele koke mai oe a e noho oe ilalo e ai?
7Ai trong các ngươi có đầy tớ đi cày hoặc đi chăn, khi ở ngoài đồng về, biểu nó rằng: Hãy đến ngay mà ngồi ăn, hay sao?
8Aole anei e olelo aku ia ia, E hoomakaukau oe i ai na'u, e kakoo ia oe iho e lawelawe mai na'u, a pau ka'u ai ana, a me ko'u inu ana; a mahope iho e ai oe a inu hoi?
8Trái lại, há không biểu nó rằng: Hãy dọn cho ta ăn, thắt lưng hầu ta, cho đến chừng nào ta ăn uống xong, rồi sau ngươi sẽ ăn uống sao?
9E haawi aku anei oia i ko aloha i ua kauwa la, no kana hana ana i na mea i kauohaia'i? Ke manao nei au aole.
9Đầy tớ vâng lịnh mà làm, thì chủ có biết ơn gì nó chăng?
10Pela hoi oukou, aia pau i ka hanaia e oukou ka oukou mau mea a pau i kauohaia'i, e olelo oukou, He poe kauwa makou e waiwai ole aku ai; o ko makou pono wale no ka makou i hana'i.
10Các ngươi cũng vậy, khi làm xong việc truyền phải làm, thì hãy nói rằng: Chúng tôi là đầy tớ vô ích; điều chúng tôi đã làm là điều chắc phải làm.
11Eia kekahi, i kona hele ana i Ierusalema, hele ae la ia mawaena o Samaria, a me Galilaia.
11Đức Chúa Jêsus đang lên thành Giê-ru-sa-lem, trải qua bờ cõi xứ Sa-ma- ri và Ga-li-lê.
12A i kona komo ana i kekahi kauhale, halawai pu me ia na kanaka lepero he umi; ku kaawale aku la lakou.
12Nhằm khi vào làng kia, có mười người phung đến đón rước Ngài, đứng đằng xa,
13Hookiekie ao la lakou i ka leo, i aku la, E Iesu ke Kumu, e aloha mai ia makou.
13lên tiếng rằng: Lạy Jêsus, lạy Thầy, xin thương xót chúng tôi cùng!
14A ike mai la, i mai la oia la lakou, E hele oukou o hoiko ia oukou iho i na kahuna. Eia kekahi, i ko lakou hele ana, hoomaemaeia'i lakou.
14Khi Ngài thấy họ liền phán rằng: Hãy đi, tỏ mình cùng thầy tế lễ. Họ đang đi thì phung lành hết thảy.
15A o kekahi o lakou i kona ike ana, ua hoolaia ia, huli mai la ia, hoonani aku la i ke Akua me ka leo nui.
15Có một người trong bọn họ thấy mình đã được sạch, bèn trở lại, lớn tiếng khen ngợi Đức Chúa Trời;
16A moe iho la ilalo ke alo, ma kona mau wawae, hoomaikai aku la. No Samaria no hoi ia.
16lại đến sấp mặt xuống đất, nơi chân Đức Chúa Jêsus, mà tạ ơn Ngài. Vả, người đó là người Sa-ma-ri.
17Alaila olelo mai la Iesu, ninau mai la, Aole anei he umi ka poe i hoomaemaeia? Auhea la na mea eiwa?
17Đức Chúa Jêsus bèn cất tiếng phán rằng: Không phải mười người đều được sạch cả sao? Còn chín người kia ở đâu?
18Aole anei i ikeia kakahi mea e ae i huli mai e hoonani i ke Akua, o keia kanaka e wale no anei?
18Chỉ có người ngoại quốc nầy trở lại ngợi khen Đức Chúa Trời ư!
19I mai la hoi oia ia ia, E ku oe iluna, e hele aku; ua ola oe i kou manaoio.
19Ngài lại phán rằng: Đứng dậy đi; đức tin ngươi đã cứu ngươi.
20Ninau aku la ka poe Parissio i ka manawa e hiki mai ai ke aupuni o ke Akua. Olelo mai la oia ia lakou, i mai la, Aole ma ka ike maka ka hiki ana mai o ke aupuni o ke Akua.
20Người Pha-ri-si hỏi Đức Chúa Jêsus nước Đức Chúa Trời chừng nào đến, thì Ngài đáp rằng: Nước Đức Chúa Trời không đến cách rõ ràng,
21Aole e olelo mai kanaka, Eia hoi maanei! a, aia hoi mao! no ka mea, aia hoi iloko o oukou ke aupuni o ke Akua.
21và người ta sẽ không nói: ỳ đây, hay là: ỳ đó; vì nầy, nước Đức Chúa Trời ở trong các ngươi.
22Alaila i mai la ia i ka poe haumana, E hiki mai ana na la e ake ai oukou e ike i kekahi la o ke Keiki a ke kanaka,, aole hoi oukou e ike.
22Ngài lại phán cùng môn đồ rằng: Sẽ có k” các ngươi ước ao thấy chỉ một ngày của Con người, mà không thấy được.
23A olelo mai lakou ia oukou, Eia hoi maanei; a, aia hoi mao; mai hele aku oukou, mai hahai aku hoi.
23Người ta sẽ nói cùng các ngươi rằng: Ngài ở đây, hay là: Ngài ở đó; nhưng đừng đi, đừng theo họ.
24No ka mea, e like me ka uila e anapu mai ana ma kekahi aoao mai o ka lani, a alohilohi aku ma kekahi aoao o ka lani, pela no ke Keiki a ke kanaka i kona la.
24Vì như chớp nháng lòe từ dưới phương trời nầy đến dưới phương trời kia, thì Con người trong ngày Ngài cũng như vậy.
25Aka, e hana ino nui ia mai oia mamua, a e wailanaia no hoi e ia hanauna.
25Nhưng Ngài trước phải chịu đau đớn nhiều, và bị dòng dõi nầy bỏ ra.
26A e like me ka hana ana i na la o Noa, pela auanei ka hana ana i na la o ke Keiki a ke kanaka.
26Việc đã xảy đến trong đời Nô-ê, thì cũng sẽ xảy đến trong ngày Con người:
27Ua ai lakou, ua inu hoi, ua mare ae, ua hoopalauia no hoi a hiki i ka la i komo ai o Noa iloko o ka halelana, a hiki mai ke kaiakahinalii, a luku iho la ia lakou a pau.
27người ta ăn, uống, cưới, gả, cho đến ngày Nô-ê vào tàu, và nước lụt đến hủy diệt thiên hạ hết.
28E like hoi me ka hana ana i na la o Lota; ua ai lakou, ua inu hoi, ua kuai lilo mai, a kuai lilo aku, ua kanu, ua kukulu hale no hoi;
28Việc đã xảy ra trong đời Lót cũng vậy, người ta ăn, uống, mua, bán, trồng tỉa, cất dựng;
29A i ka la i hele aku ai o Lota mawaho o Sodoma, i ua mai la ke ahi a me ka luaipele, mai ka lani mai, a luku iho la ia lakou a pau.
29đến này Lót ra khỏi thành Sô-đôm, thì trời mưa lửa và diêm sinh, giết hết dân thành ấy.
30Pela uanei i ka la e hoikeia mai ai ke Keiki a ke kanaka.
30Ngày Con người hiện ra cũng một thể nầy.
31A i kela la, o ke kanaka maluna o ka hale, a he waiwai kona maloko o ka hale, mai iho ia ilalo e lawe aku ia; pela hoi, o ka mea ma ka waena, mai hoi ae ia.
31Trong ngày đó, ai ở trên mái nhà, có của để trong nhà, đừng xuống mà chuyên đi; ai ở ngoài đồng, cũng đừng trở về nữa.
32E hoomanao i ka wahine a Lota.
32Hãy nhớ lại vợ của Lót.
33O ka mea e hoopapau e malama i kona ola nei, e lilo kona ola, a o ka mea e lilo kona ola nei, e hoomau no ia i kona ola.
33Ai kiếm cách cứu sự sống mình, thì sẽ mất; ai mất sự sống mình, thì sẽ được lại.
34Ke hai aku nei au ia oukou, ia po, e moe no na kanaka elua ma ka moe hookahi; e laweia'ku kekahi, a e waiho no kekahi.
34Ta phán cùng các ngươi, trong đêm đó, hai người nằm chung giường, một người sẽ được rước đi, còn một bị để lại.
35Elua hoi wahine e wili pu ana; e laweia'ku kekahi, a e waiho no kekahi.
35Hai người đàn bà xay chung cối, một người được rước đi, còn một bị để lại.
36Ma ka waena no na kanaka elua; e laweia'ku kekahi, a e waiho no kekahi.
36Hai người ở ngoài đồng, một người được rước đi, còn một bị để lại.
37A ninau aku la lakou, i aku la ia ia, Aihea, e ka Haku? I mai la hoi oia ia lakou, A i ka wahi e waiho ai ke kino, ilaila na aeto e akoakoa ai.
37Các môn đồ bèn thưa Ngài rằng: Thưa Chúa, sự ấy sẽ ở tại đâu? Ngài đáp rằng: Xác chết ở đâu, chim ó nhóm tại đó.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.