Luka 23
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1A KU ae ko lakou poe a pau, alakai aku la lakou ia ia io Pilato la.
1Đoạn, cả hội đồng đứng dậy, điệu Ngài đến trước mặt Phi-lát
2A hoohewa aku la lakou ia ia, i aku la, Ua ike makou ia ia nei e hoohuli hewa ana i kanaka, e papa ana i ka hookupu ia Kaisara, e olelo ana, Oia iho no ka Mesia, ke alii.
2Họ bèn khởi cáo Ngài rằng: Chúng tôi đã thấy người nầy xui dân ta làm loạn, cấm nộp thuế cho Sê-sa, và xưng mình là Đấng Christ, là Vua.
3Alaila ninau aku la o Pilato ia ia, i aku la, O oe no anei ke alii o ka poe Iudaio? Hai mai la hoi o Iesu ia ia, i mai la, Oia kau i olelo mai nei.
3Phi-lát gạn Ngài rằng: Chính ngươi là Vua dân Giu-đa phải không? Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Thật như lời.
4Olelo mai la Pilato i na kahuna nui, a me ka ahakanaka, Aohe hewa iki o keia kanaka i loaa ia'u.
4Phi-lát bèn nói với các thầy tế lễ cả và dân chúng rằng: Ta không thấy người nầy có tội gì.
5Koi ikaika aku la no nae lakou, e olelo ana, Ua hoohaunaele oia nei i kanaka i kana ao ana a puni Iudea, mai Galilaia kahi i hoomaka ai, a hiki mai i keia wahi.
5Nhưng họ cố nài rằng: Người nầy xui giục dân sự, truyền giáo khắp đất Giu-đê, bắt đầu từ xứ Ga-li-lê rồi đến đây.
6A lohe Pilato i ka hua Galilaia, ninau mai la ia, he kanaka Galilaia paha ia.
6Khi Phi-lát nghe điều đó, thì hỏi nếu người nầy thật là dân Ga-li-lê chăng.
7A maopopo ia ia no ka aina ia Herode kela, hoouna aku la oia ia ia io Herode la, e noho ana oia ma Ierusalema ia mau la.
7Biết Ngài thuộc quyền cai trị của vua Hê-rốt, bèn giải đến cho vua Hê-rốt, vua ấy ở tại thành Giê-ru-sa-lem trong mấy ngày đó.
8A ike o Herode ia Iesu, olioli nui iho la ia; no ka mea, he loihi kona manawa i makemake ai e ike ia ia, no na mea he nui ana i lohe ai nona; a manao no hoi ia e ike i kekahi hana mana e hanaia e ia.
8Vua Hê-rốt thấy Đức Chúa Jêsus thì mừng lắm; vì lâu nay vua muốn gặp Ngài, nhân đã nghe nói về chuyện Ngài, và mong xem Ngài làm phép lạ.
9A he nui na mea ana i ninau aku ai ia ia, aole hoi o Iesu i hai iki mai ia ia.
9Vậy, vua hỏi Ngài nhiều câu, song Ngài không trả lời gì hết.
10Ku ae la na kahuna nui, a me ka poe kakaolelo, hoohewa ikaika lakou ia ia.
10Các thầy tế lễ cả và các thầy thông giáo ở đó, cáo Ngài dữ lắm.
11Hoowahawaha aku la no hoi o Herode, a me kona poe koa ia ia, me ka hoomaewaewa, kahiko aku la ia ia roe ka aahu nani, a hoihoi mai la ia ia io Pilato la.
11Bấy giờ vua Hê-rốt và quân lính hầu vua đều đãi Ngài cách khinh dể và nhạo báng Ngài; đoạn, họ mặc áo hoa hòe cho Ngài, rồi giao Ngài về cho Phi-lát.
12Lilo ae la no hoi o Pilato a me Herode i mau hoaaloha pu, ia la; no ka mea, ua ku e kekahi i kekahi mamua.
12Trước kia Phi-lát với vua Hê-rốt thù hiềm nhau, nhưng nội ngày ấy trở nên bạn hữu.
13A hoakoakoa mai la o Pilato i na kahuna nui, a me na luna, a me na kanaka;
13Phi-lát hiệp các thầy tế lễ cả, các quan đề hình và dân chúng lại, mà nói rằng:
14I mai la oia ia lakou, Ua lawe mai nei oukou i keia kanaka io'u nei me he mea la e hoohuli e ana i kanaka; a ua hookolokolo au ia ia imua o oukou, ea, aole hoi i loaa ia'u ka hewa o ua kanaka nei a oukou i niania ai ia ia:
14Các ngươi đã đem nộp người nầy cho ta, về việc xui dân làm loạn; nhưng đã tra hỏi trước mặt các ngươi đây, thì ta không thấy người mắc một tội nào mà các ngươi đã cáo;
15Aole hoi o Herode, no ka mea, ua hoouna aku au ia oukou io na la; i ike hoi oukou, aole oia nei i hana i ka mea e pono ai ka make ana.
15vua Hê-rốt cũng vậy, vì đã giao người về cho ta. Vậy, người nầy đã không làm điều gì đáng chết,
16Nolaila e hahau au ia ia, a e hookuu aku.
16nên ta sẽ đánh đòn rồi tha đi.
17No ka mea, he pono ke hookuu aku oia i kekahi ia lakou, ia ahaaina.
17(Số là đến ngày lễ, quan phải tha một tên tù cho dân.)
18Hea nui ae la lakou a pau e olelo aua, E kaiia'ku keia, a e hookuu mai oe ia Paraba ia makou.
18Chúng bèn đồng thanh kêu lên rằng: Hãy giết người nầy đi, mà tha Ba-ra- ba cho chúng tôi!
19O ka mea ia i hahaoia iloko o ka halepaaliao, no ka hoohaunaele ana maloko o ke kulanakauhaule, a me ka pepehi kanaka.
19Vả, tên nầy bị tù vì dấy loạn trong thành, và vì tội giết người.
20Nolaila olelo hou mai la Pilato ia lakou me ka makemake e hookuu ia Iesu.
20Phi-lát có ý muốn tha Đức Chúa Jêsus, nên lại nói cùng dân chúng nữa.
21A olelo leo nui aku la lakou, E kau ma ke kea! e kau ma ke kea ia ia!
21Song chúng kêu lên rằng: Đóng đinh nó trên cây thập tự đi! Đóng đinh nó trên cây thập tự đi!
22A olelo hou mai la ia, o ke kolu keia, ia lakou, No ko aha la, heaha ka mea hewa ana i hana'i? Aole au i ike i kona hewa e pono ai ka make: nolaila e hahau aku au ia ia, a hookuu aku.
22Phi-lát lại nói đến lần thứ ba, rằng: Vậy người nầy đã làm điều ác gì? Ta không tìm thấy người có sự gì đáng chết. Vậy, đánh đòn xong, ta sẽ tha.
23Aka hoi, koi aku la lakou me ka leo nui, e noi ana e make ia ma ke kea; a ko ae la ko lakou mau leo a me ko na kahuna nui.
23Nhưng chúng cố nài, kêu lớn tiếng rằng phải đóng đinh Ngài trên cây thập tự; tiếng kêu của họ được thắng.
24A olelo iho la o Pilato e hanaia ka mea a lakou i noi ai.
24Phi-lát truyền làm y như lời chúng xin.
25Alaila hookuu ae la oia i ka lakou mea i noi ai, i ka mea i hahaoia iloko o ka halepaahao no ka hoohaunaele ana, a me ka pepehi kanaka; a haawi ae la ia Iesu ma ko lakou manao.
25Bèn tha tên tù vì tội dấy loạn và giết người, là người chúng đã xin tha; rồi phó Đức Chúa Jêsus cho mặc ý họ.
26A i ko lakou kai ana'ku ia ia, lalau iho lakou ia Simona no Kurene e hele mai ana mai ka aina mai, kau aku la lakou i ka laau kea maluna ona, e hali aku ia mahope o Iesu.
26Khi chúng điệu Đức Chúa Jêsus đi, bắt một người xứ Sy-ren, tên là Si- môn, từ ngoài đồng về, buộc phải vác cây thập tự theo sau Ngài.
27A hahai aku la ia ia ka ahakanaka he nui loa, o na wahine kekahi, na mea i uwe aku, a u aku hoi ia ia.
27Có đoàn dân đông lắm đi theo Đức Chúa Jêsus, và có mấy người đàn bà đấm ngực khóc về Ngài.
28Alaila haliu mai la Iesu ia lakou, i mai la, E na kaikamahine o Ierusalema, mai uwe oukou no'u, aka, e uwe oukou no oukou iho, a no ka oukou mau keiki;
28Nhưng Đức Chúa Jêsus xây mặt lại với họ mà phán rằng: Hỡi con gái thành Giê-ru-sa-lem, đừng khóc về ta, song khóc về chính mình các ngươi và về con cái các ngươi.
29No ka mea, e hiki mai ana na la e olelo ai lakou, Pomaikai ka poe i pa, a me na opu i hanau ole, a me na u i omo ole ia.
29Vì nầy, ngày hầu đến, người ta sẽ nói rằng: Phước cho đàn bà son, phước cho dạ không sanh đẻ và vú không cho con bú!
30Alaila e hoomaka lakou e olelo aku i na mauna, E hiolo mai maluna iho o makou; a i na puu hoi, E uhi mai ia makou.
30Bấy giờ, người ta sẽ nói với núi rằng: Hãy đổ xuống trên chúng ta! với gò rằng: Hãy che chúng ta!
31No ka mea, ina e hana lakou i keia mau mea i ka laau maka, heaha ka mea e hanaia'i i ka laau maloo?
31Vì nếu người ta làm những sự ấy cho cây xanh, thì cây khô sẽ xảy ra sao?
32A ua alakaiia'ku na mea o ae elua, na kanaka hana hewa, e make pu me ia.
32Chúng cũng đem hai người đi nữa, là kẻ trộm cướp, để giết cùng với Ngài.
33A hiki aku la lakou i ka wahi i kapaia o Kalevari, malaila lakou i kau aku ai ia ia ma ke kea, a me na lawehala, ma ka akau kekahi, a ma ka hema kekahi.
33Khi đến một chỗ gọi là chỗ Sọ, họ đóng đinh Ngài trên cây thập tự tại đó, cùng hai tên trộm cướp, một tên bên hữu Ngài, một tên bên tả.
34Alaila olelo aku la o Iesu, E ka Makua, e kala iho oe i ko lakou nei hewa; no ka mea, aole o lakou ike i ka lakou mea e hana nei. Puunaue ae la lakou i kona mau kapa, hailona iho la.
34Song Đức Chúa Jêsus cầu rằng: Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết mình làm điều gì. Đoạn, họ bắt thăm chia nhau áo xống của Ngài.
35Ku iho la no hoi na kanaka e makaikai ana: a hoomaewaewa aku la me ko lakou mau alii, i aku la, Ua hoola ka oia ia hai, a ina oia ka Mesia, ka hiwahiwa a ke Akua, e hoola kela ia ia iho.
35Dân chúng đứng đó mà ngó. Các người coi việc nhạo cười Ngài, rằng: Nó đã cứu kẻ khác; nếu nó là Đấng Christ, Đấng Đức Chúa Trời đã lựa, thì hãy cứu mình đi!
36Hoomaewaewa aku la hoi na koa ia ia, hele aku la lakou, a haawi aku i ka vinega ia ia;
36Quân lính cũng giỡn cợt Ngài, lại gần đưa giấm cho Ngài uống,
37A olelo aku la lakou, Ina o oe ke alii o ka poe Iudaio, e hoola oe ia oe iho.
37mà rằng: Nếu ngươi là Vua dân Giu-đa, hãy tự cứu lấy mình đi!
38He palapala hoi maluna ona, he Helene, he Roma, a he Hebera ka olelo i kakauia'i ia, OIA NEI KE ALII O KA POE IUDAIO.
38Phía trên đầu Ngài, có đề rằng: Người Nầy Là Vua Dân Giu-đa.
39A o kekahi o na lawehala i kauia, hoino aku la oia ia ia, i aku la, Ina o oe ka Mesia, e hoola oe ia oe iho, a me maua.
39Vả, một tên trộm cướp bị đóng đinh cũng mắng nhiếc Ngài rằng: Ngươi không phải là Đấng Christ sao? Hãy tự cứu lấy mình ngươi cùng chúng ta nữa!
40A olelo ae la kekahi e ao ana ia ia, i ae la, Aole anei ou makau i ke Akua? maloko pu hoi oe o ia make hookahi.
40Nhưng tên kia trách nó rằng: Ngươi cũng chịu một hình phạt ấy, còn chẳng sợ Đức Chúa Trời sao?
41A ia kaua, he pono ia, no ka mea, ua loaa ia kaua ka uku pono o ka kaua hana ana; aka oia nei, aole ia i hana hewa iki.
41Về phần chúng ta, chỉ là sự công bình, vì hình ta chịu xứng với việc ta làm; nhưng người nầy không hề làm một điều gì ác.
42Olelo aku la hoi oia ia Iesu, E hoomanao mai oe ia'u, e ka Haku, i ka wa e hiki ai oe i kou aupuni.
42Đoạn lại nói rằng: Hỡi Jêsus, khi Ngài đến trong nước mình rồi, xin nhớ lấy tôi!
43I mai la hoi o Iesu ia ia, He oiaio ka'u e olelo aku nei ia oe, I keia la o oe pu kekahi me au iloko o ka paradaiso.
43Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Quả thật, ta nói cùng ngươi, hôm nay ngươi sẽ được ở với ta trong nơi Ba-ra-đi.
44A i ke ono o ka hora, he pouli maluna o ka honua a pau, a hiki i ka iwa o ka hora.
44Khi đó, ước giờ thứ sáu, khắp xứ đều tối tăm cho đến giờ thứ chín.
45Ua hoopouliia hoi ka la, a nahae iho la mawaenakonu ka paku o ka luakini.
45Mặt trời trở nên tối, và màn trong đền thờ xé chính giữa ra làm hai.
46A kahea aku la o Iesu me ka leo nui, i aku la, E ka Makua, iloko o kou mau lima ke waiho aku nei au i ko'u uhane! A pau kana olelo ana ia, make iho la ia.
46Đức Chúa Jêsus bèn kêu lớn rằng: Hỡi Cha, tôi giao linh hồn lại trong tay Cha! Ngài vừa nói xong thì tắt hơi.
47A ike ka lunahaneri ia mea i hanaia'i, hoomaikai aku la ia i ke Akua, i aku la, Oiaio, he kanaka pono no keia.
47Thầy đội thấy sự đã xảy ra, ngợi khen Đức Chúa Trời rằng: Thật người nầy là người công bình.
48O ka poe kanaka hoi a pau i akoakoa mai ma keia mea i ikeia, a ike lakou i na mea i hanaia, papai iho la lakou ma ko lakou umauma iho, a hoi aku la.
48Cả dân chúng đi xem, thấy nông nổi làm vậy, đấm ngực mà trở về.
49Ku mamao aku la hoi kona poe hoalauna a pau, a me na wahine i hahai ia ia mai Galilaia mai, e makaikai ana lakou ia mau mea.
49Song những kẻ quen biết Đức Chúa Jêsus và các người đàn bà theo Ngài từ xứ Ga-li-lê, đều đứng đằng xa mà ngó.
50Aia hoi, he kanaka, o Iosepa kona inoa, he kakaolelo, he kanaka maikai, he hoopono;
50Có một người, tên là Giô-sép, làm nghị viên tòa công luận, là người chánh trực công bình,
51(Aole oia i ae pu aku ma ko lakou manao, a me ka lakou huna;) no Arimataia, no ke kulanakauhale o ka poe Iudaio ia, e kali ana no oia i ke aupuni o ke Akua.
51không đồng ý và cũng không dự việc các người kia đã làm. Người ở A-ri- ma-thê, là thành thuộc về xứ Giu-đê, vẫn trông đợi nước Đức Chúa Trời.
52Hele aku la ia io Pilato la, a noi aku la i ke kino o Iesu.
52Người bèn đi đến Phi-lát mà xin xác Đức Chúa Jêsus.
53Kuu iho la no hoi oia ia ia ilalo, wahi iho la ia ia i ka lole olona, a waiho ae la ia ia iloko o ka luakupapau i kalaiia iloko o ka pohaku, aole i waiho e ia ke kanaka malaila.
53Khi đã đem xác Ngài xuống khỏi cây thập tự, người lấy vải liệm mà bọc, rồi chôn trong huyệt đã đục nơi hòn đá, là huyệt chưa chôn ai hết.
54O ka la ia e hoomakaukau ai, a e kokoke mai ana ka la Sabati.
54Bấy giờ là ngày sắm sửa, và ngày Sa-bát gần tới.
55A o ka poe wahine i hele pu me ia mai Galilaia mai, bahai aku la lakou a ike i ka luakupapau, a me ka waiho ana o kona kino.
55Các người đàn bà đã từ xứ Ga-li-lê đến với Đức Chúa Jêsus, theo Giô-sép, xem mả và cũng xem xác Ngài đặt thể nào. Khi trở về, họ sắm sửa những thuốc thơm và sáp thơm.
56Hoi mai la lakou, a hoomakaukau i na mea ala, a me ka hinu; a hoomaha iho la i ka la Sabati, mamuli o ke kauoha.
56Ngày Sa-bát, họ nghỉ ngơi theo luật lệ.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.