Lucas 10
Bíblia Portuguesa Mundial (Brazilian Portuguese)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Depois destas coisas, o Senhor também designou outros setenta e os enviou de dois em dois à sua frente a cada cidade e lugar aonde ele próprio estava para ir.
1Kế đó, Chúa chọn bảy mươi môn đồ khác, sai từng đôi đi trước Ngài, đến các thành các chỗ mà chính Ngài sẽ đi.
2Então ele lhes disse: “A seara é realmente grande, mas os trabalhadores são poucos. Portanto, peçam ao Senhor da seara que envie trabalhadores para a sua seara.
2Ngài phán cùng môn đồ rằng: Mùa gặt thì trúng, song con gặt thì ít. Vậy, hãy xin Chủ mùa gặt sai con gặt đến trong mùa của mình.
3Vão! Eis que eu os envio como cordeiros para o meio de lobos.
3Hãy đi; nầy, ta sai các ngươi đi, khác nào như chiên con ở giữa bầy muông sói.
4Não levem bolsa, alforje nem sandálias. Não saúdem ninguém pelo caminho.
4Đừng đem túi, bao, giày, và đừng chào ai dọc đường.
5Em qualquer casa em que entrarem, digam primeiro: 'Paz a esta casa.'
5Hễ các ngươi vào nhà nào, trước hết hãy nói rằng: Cầu sự bình an cho nhà nầy!
6Se houver ali um filho da paz, a paz de vocês repousará sobre ele; mas, se não, voltará para vocês.
6Nếu nhà đó có người nào đáng được bình an, sự bình an của các ngươi sẽ giáng cho họ; bằng không, sẽ trở về các ngươi.
7Permaneçam naquela mesma casa, comendo e bebendo o que lhes derem, pois o trabalhador é digno do seu salário. Não andem de casa em casa.
7Hãy ở nhà đó, ăn uống đồ người ta sẽ cho các ngươi, vì người làm công đáng được tiền lương mình. Đừng đi nhà nầy sang nhà khác.
8Em qualquer cidade em que entrarem e os receberem, comam o que lhes for servido.
8Hễ các ngươi vào thành nào, mà người ta tiếp rước, hãy ăn đồ họ sẽ dọn cho.
9Curem os enfermos que nela houver e digam-lhes: 'O Reino de Deus se aproximou de vocês.'
9Hãy chữa kẻ bịnh ở đó, và nói với họ rằng: Nước Đức Chúa Trời đến gần các ngươi.
10Mas, em qualquer cidade em que entrarem e não os receberem, saiam pelas suas ruas e digam:
10Song hễ các ngươi vào thành nào, họ không tiếp rước, hãy đi ra ngoài chợ, mà nói rằng:
11'Até o pó da cidade de vocês que se apegou a nós, sacudimos contra vocês. Contudo, saibam isto: o Reino de Deus se aproximou de vocês.'
11Đối với các ngươi, chúng ta cũng phủi bụi của thành các ngươi đã dính chân chúng ta; nhưng phải biết nước Đức Chúa Trời đã đến gần các ngươi rồi.
12Eu lhes digo que, naquele dia, haverá mais tolerância para Sodoma do que para aquela cidade.
12Ta phán cùng các ngươi, đến ngày cuối cùng, thành Sô-đôm sẽ chịu nhẹ hơn thành nầy.
13“Ai de você, Corazim! Ai de você, Betsaida! Porque, se os milagres realizados em vocês tivessem sido realizados em Tiro e em Sidom, há muito elas teriam se arrependido, sentadas em pano de saco e cinza.
13Khốn cho mầy, thành Cô-ra-xin! Khốn cho mầy, thành Bết-sai-đa! Vì nếu các phép lạ đã làm giữa bay, đem làm trong thành Ty-rơ và thành Si-đôn, thì hai thành ấy đã mặc áo gai và đội tro mà ăn năn từ lâu rồi.
14Mas haverá mais tolerância para Tiro e Sidom no juízo do que para vocês.
14Vậy, đến ngày phán xét, thành Ty-rơ và thành Si-đôn sẽ chịu nhẹ hơn bay.
15E você, Cafarnaum, que é exaltada até o céu, será abatida até o Hades.
15Còn mầy, thành Ca-bê-na-um, mầy sẽ được nhắc lên tận trời sao? Không, sẽ bị hạ xuống tới dưới Aâm phủ!
16Quem ouve vocês ouve a mim; quem rejeita vocês rejeita a mim. Quem me rejeita, rejeita aquele que me enviou.”
16Ai nghe các ngươi, ấy là nghe ta; ai bỏ các ngươi, ấy là bỏ ta; còn ai bỏ ta, ấy là bỏ Đấng đã sai ta.
17Os setenta voltaram com alegria, dizendo: “Senhor, até os demônios se submetem a nós em teu nome!”
17Bảy mươi môn đồ trở về cách vui vẻ, thưa rằng: Lạy Chúa, vì danh Chúa, các quỉ cũng phục chúng tôi.
18Ele lhes disse: “Eu via Satanás cair do céu como um relâmpago.
18Đức Chúa Jêsus bèn phán rằng: Ta đã thấy quỉ Sa-tan từ trời sa xuống như chớp.
19Eis que eu lhes dou autoridade para pisar serpentes e escorpiões e sobre todo o poder do inimigo. Nada lhes causará dano de modo algum.
19Nầy, ta đã ban quyền cho các ngươi giày đạp rắn, bò cạp, và mọi quyền của kẻ nghịch dưới chân; không gì làm hại các ngươi được.
20Contudo, não se alegrem porque os espíritos se submetem a vocês, mas alegrem-se porque os nomes de vocês estão escritos nos céus.”
20Dầu vậy, chớ mừng vì các quỉ phục các ngươi; nhưng hãy mừng vì tên các ngươi đã ghi trên thiên đàng.
21Naquela mesma hora, Jesus exultou no Espírito Santo e disse: “Eu te agradeço, ó Pai, Senhor do céu e da terra, porque escondeste estas coisas dos sábios e entendidos, e as revelaste aos pequeninos. Sim, Pai, pois assim foi do teu agrado.”
21Cũng giờ đó, Đức Chúa Jêsus nức lòng bởi Đức Thánh Linh, bèn nói rằng: Lạy Cha, là Chúa trời đất, tôi ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu những sự nầy với kẻ khôn ngoan, người sáng dạ, mà tỏ ra cho trẻ nhỏ hay! Thưa Cha, phải, thật như vậy, vì Cha đã thấy điều đó là tốt lành.
22Voltando-se para os discípulos, ele disse: “Todas as coisas me foram entregues por meu Pai. Ninguém sabe quem é o Filho, senão o Pai, e quem é o Pai, senão o Filho, e aquele a quem o Filho o quiser revelar.”
22Cha ta đã giao mọi sự cho ta; ngoài Cha không ai biết Con là ai; ngoài Con, và người nào mà Con muốn tỏ ra cùng, thì cũng không có ai biết Cha là ai.
23Voltando-se para os discípulos, ele disse em particular: “Bem-aventurados os olhos que veem o que vocês veem,
23Đoạn, Ngài xây lại cùng môn đồ mà phán riêng rằng: Phước cho mắt nào được thấy điều các ngươi thấy!
24pois eu lhes digo que muitos profetas e reis desejaram ver o que vocês veem e não viram, e ouvir o que vocês ouvem e não ouviram.”
24Vì ta nói cùng các ngươi, có nhiều đấng tiên tri và vua chúa ước ao thấy điều các ngươi thấy, mà chẳng từng thấy, ước ao nghe điều các ngươi nghe, mà chẳng từng nghe.
25Eis que um certo intérprete da lei se levantou e o testou, dizendo: “Mestre, o que farei para herdar a vida eterna?”
25Bấy giờ, một thầy dạy luật đứng dậy hỏi đặng thử Đức Chúa Jêsus rằng: Thưa thầy, tôi phải làm gì để được hưởng sự sống đời đời?
26Ele lhe disse: “O que está escrito na lei? Como você lê?”
26Ngài phán rằng: Trong luật pháp có chép điều gì? Ngươi đọc gì trong đó?
27Ele respondeu: “Amarás o Senhor teu Deus de todo o teu coração, de toda a tua alma, de todas as tuas forças e de todo o teu entendimento; e ao teu próximo como a ti mesmo.”
27Thưa rằng: Ngươi phải hết lòng, hết linh hồn, hết sức, hết trí mà kính mến Chúa là Đức Chúa Trời ngươi; và yêu người lân cận như mình.
28Ele lhe disse: “Você respondeu corretamente. Faça isso, e viverá.”
28Đức Chúa Jêsus phán rằng: Ngươi đáp phải lắm; hãy làm điều đó, thì được sống.
29Mas ele, desejando justificar a si mesmo, perguntou a Jesus: “E quem é o meu próximo?”
29Song thầy ấy muốn xưng mình là công bình, nên thưa cùng Đức Chúa Jêsus rằng: Ai là người lân cận tôi?
30Jesus respondeu: “Um certo homem descia de Jerusalém para Jericó e caiu nas mãos de salteadores, os quais o despojaram e o espancaram, e se retiraram, deixando-o quase morto.
30Đức Chúa Jêsus lại cất tiếng phán rằng: Có một người từ thành Giê-ru-sa-lem xuống thành Giê-ri-cô, lâm vào kẻ cướp, nó giựt lột hết, đánh cho mình mẩy bị thương rồi đi, để người đó nửa sống nửa chết.
31Por acaso, um certo sacerdote descia por aquele caminho. Quando o viu, passou pelo outro lado.
31Vả, gặp một thầy tế lễ đi xuống đường đó, thấy người ấy, thì đi qua khỏi.
32Do mesmo modo, também um levita, quando chegou ao lugar e o viu, passou pelo outro lado.
32Lại có một người Lê-vi cũng đến nơi, lại gần, thấy, rồi đi qua khỏi.
33Mas um certo samaritano, estando de viagem, chegou onde ele estava. Quando o viu, moveu-se de compaixão,
33Song có một người Sa-ma-ri đi đường, đến gần người đó, ngó thấy thì động lòng thương;
34aproximou-se dele e atou-lhe as feridas, derramando nelas óleo e vinho. Ele o colocou sobre o seu próprio animal, levou-o para uma hospedaria e cuidou dele.
34bèn áp lại, lấy dầu và rượu xức chỗ bị thương, rồi rịt lại; đoạn, cho cỡi con vật mình đem đến nhà quán, mà săn sóc cho.
35No dia seguinte, ao partir, ele tirou dois denários, deu-os ao hospedeiro e lhe disse: 'Cuide dele. O que gastar além disso, eu lhe pagarei quando voltar.'
35Đến bữa sau, lấy hai đơ-ni-ê đưa cho chủ quán, dặn rằng: Hãy săn sóc người nầy, nếu tốn hơn nữa, khi tôi trở về sẽ trả.
36Qual destes três, pois, lhe parece ter sido o próximo daquele que caiu nas mãos dos salteadores?”
36Trong ba người đó, ngươi tưởng ai là lân cận với kẻ bị cướp?
37Ele disse: “Aquele que teve misericórdia dele.” Então Jesus lhe disse: “Vai, e faze tu o mesmo.”
37Thầy dạy luật thưa rằng: Aáy là người đã lấy lòng thương xót đãi người. Đức Chúa Jêsus phán rằng: Hãy đi, làm theo như vậy.
38Enquanto seguiam o seu caminho, ele entrou em uma certa aldeia, e uma certa mulher chamada Marta o recebeu em sua casa.
38Khi Đức Chúa Jêsus cùng môn đồ đi đường, đến một làng kia, có người đàn bà, tên là Ma-thê, rước Ngài vào nhà mình.
39Ela tinha uma irmã chamada Maria, a qual também se assentou aos pés de Jesus e ouvia a sua palavra.
39Người có một em gái, tên là Ma-ri, ngồi dưới chân Chúa mà nghe lời Ngài.
40Mas Marta estava distraída com muito serviço; aproximando-se dele, disse: “Senhor, não se importa que minha irmã me deixe servir sozinha? Diga a ela, então, que me ajude.”
40Vả, Ma-thê mảng lo việc vặt, đến thưa Đức Chúa Jêsus rằng: Lạy Chúa, em tôi để một mình tôi hầu việc, Chúa há không nghĩ đến sao? Xin biểu nó giúp tôi.
41Jesus lhe respondeu: “Marta, Marta, você está ansiosa e perturbada com muitas coisas,
41Chúa đáp rằng: Hỡi Ma-thê, Ma-thê, ngươi chịu khó và bối rối về nhiều việc;
42mas uma só coisa é necessária. Maria escolheu a boa parte, a qual não lhe será tirada.”
42nhưng có một việc cần mà thôi. Ma-ri đã lựa phần tốt, là phần không có ai cất lấy được.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.