Korineto II. 12
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1A OLE paha o'u pono ke kaena aku: aka, e hiki nuanei au ma na hihio a me na hoike ana mai a ka Haku.
1Tôi cần phải khoe mình, dầu chẳng có ích gì; nhưng tôi sẽ nói đến các sự hiện thấy và sự Chúa đã tỏ ra.
2I na makahiki mamna, he umikumamaha, ua ike no au i kekahi kanaka no Kristo, iloko o ke kino paha, aole au i ike, iwaho e ke kino paha, aole au i ike, o ke Akua ke ike; ua laweia'ku la na mea la iluna i ke kolu'o ka lani.
2Tôi biết một người trong Đấng Christ, cách mười bốn năm trước, đã được đem lên đến từng trời thứ ba (hoặc trong thân thể người, hoặc ngoài thân thể người, tôi chẳng biết, có Đức Chúa Trời biết).
3O ua kanaka la ka'u i ike, iloko o ke kino paha, iwaho e ke kine paha, aole au i ike, o ke Akua ke ike:
3Tôi biết người đó (hoặc trong thân thể người, hoặc ngoài thân thể người, tôi cũng chẳng biết, có Đức Chúa Trời biết)
4Ua laweia'ku oia iluna I paradaiso, a lohe ae ia ia i na huaolelo hiki ole ke pane ae, aole hoi e pono ke ekemuiaku e ke kanaka.
4được đem lên đến chốn Ba-ra-đi, ở đó, nghe những lời không thể nói, mà không có phép cho người nào nói ra.
5No ua mea la ka'u e kaena aku ai: aole no'u iho ka'u o kaena ai, aka, no ko'u mau mea palupalu.
5Về người đó, tôi sẽ khoe mình; nhưng về chính mình tôi, tôi không khoe, chỉ khoe về sự yếu đuối của tôi mà thôi.
6Ina paha i ake au e kaena aku, aole o'u naaupo; no ka mea, e hai aku ana au i ka oiaio: aka, ke oki nei no au, o manao mai paha kekahi ia'u he kiekie maluna o kana i ike mai ai ia'u, a me kana i iohe mai ai ia'u.
6Dầu tôi muốn khoe mình, thì cũng không phải là một người dại dột, vì tôi sẽ nói thật; nhưng tôi giữ, không nói, hầu cho chẳng ai nghĩ tôi vượt quá sự họ thấy ở nơi tôi và nghe tôi nói.
7O hookiekie paha wau no ka nui o na mea i hoikeia mai, ua haawiia mai ia'u he mea oioi ma kuu io, he elele na Satana e kui mai ai ia'u, o hookiekie auanei au.
7Vậy nên, e rằng tôi lên mình kiêu ngạo bởi sự cao trọng cả thể của những sự tỏ ra ấy chăng, thì đã cho một cái giằm xóc vào thịt tôi, tức là quỉ sứ của Sa-tan, để vả tôi, và làm cho tôi đừng kiêu ngạo.
8No ia mea, ekolu au noi ana aku i ka Haku, i haalele mai ia mea ia'u.
8Đã ba lần tôi cầu nguyện Chúa cho nó lìa xa tôi.
9I mai la kela ia'u, Ua lawa kuu lokomaikai nou: no ka mea, ma ka nawaliwali ka hoomaopopo ana o ko'u mana. No ia hoi, e kaena aku au me ka oluolu i kuu nawaliwali, i kau mai ai ka mana o Kristo maluna iho o'u.
9Nhưng Chúa phán rằng: Aân điển ta đủ cho ngươi rồi, vì sức mạnh của ta nên trọn vẹn trong sự yếu đuối. Vậy, tôi sẽ rất vui lòng khoe mình về sự yếu đuối tôi, hầu cho sức mạnh của Đấng Christ ở trong tôi.
10Nolaila, he oluolu ko'u i ka nawaliwali, a me ka hoinoia, a me ka poino, a me ka hoomaauia, a me ka pilikia no Kristo: no ka mea, i kuu nawaliwali ana, alaila ua ikaika au.
10Cho nên tôi vì Đấng Christ mà đành chịu trong sự yếu đuối, nhuốc nhơ, túng ngặt, bắt bớ, khốn khó; vì khi tôi yếu đuối, ấy là lúc tôi mạnh mẽ.
11Ua lilo au i naaupo ma ke kaena ana; na oukou au i koi mai: no ka mea, he pono ko'u e hoomaikaiia mai e oukou; aole au i emi iki mahope o na lunaolelo pookela, he mea ole no nae au.
11Tôi đã nên dại dột bởi anh em ép uổng tôi; lẽ thì anh em khen lao tôi mới phải, vì dầu tôi không ra gì, cũng chẳng kém các sứ đồ rất lớn kia chút nào.
12He oiaio, na hanaia na oihana lunaolelo iwaena o oukou me ka hoomanawanui, me na hoailona, me na mea kupanaha a me na hana mana.
12Các bằng cớ về chức sứ đồ tôi đã tỏ ra trong anh em bởi sự nhịn nhục mọi đàng, bởi các dấu lạ, các sự khác thường, và các phép lạ.
13Mahea ko oukou wnhi emi mahope o na ekalesia e ae, ke waiho ko oukou kaumaha ole ia'u? E kala mai oukou ia'u i keia mea pono ole.
13Vả, nếu trừ ra sự chính tôi không làm lụy cho anh em, thì anh em có việc gì mà chẳng bằng các Hội thánh khác? Xin tha thứ cho tôi sự không công bình đó!
14Aia hoi, eia ke kolu o kuu makankau e hele aku io oukou la; aole au e hookaumaha ia oukou; no ka mea, o oukou ka'u e imi nei, aole ka oukou: aole e pono no na keiki ke hoahu aku na na makua, aka, o na makua na na keiki.
14Nầy là lần thứ ba tôi sẵn sàng đi đến cùng anh em, và tôi sẽ chẳng làm lụy cho anh em đâu, vì không phải tôi tìm của cải anh em, bèn là tìm chính anh em vậy; thật, chẳng phải con cái nên chứa của quí cho cha mẹ, nhưng thà cha mẹ chứa cho con cái thì hơn.
15A ua oluolu au ke lilo aku a e hooliloia hoi no ko oukou uhane; ina paha me ka mahuahua o ko'u aloha aka ia oukou, pela ka emi ana o ko'u alohaia mai.
15Về phần tôi, tôi rất vui lòng phí của và phí trọn cả mình tôi vì linh hồn anh em, dẫu rằng tôi yêu anh em thêm, mà cần phải bị anh em yêu tôi kém.
16A oia no pela, aole no oukou i kaumaha ia'u: aka, ua maalea au, nolaila ua puni oukou ia'u.
16Tuy rằng tôi chưa từng làm lụy cho anh em, nhưng tôi là người khôn khéo, đã dùng mưu kế mà bắt lấy anh em!
17Ua waiwai anei au ia oukou ma kekahi o ka poe a'u i hoouna aku ai io oukou la?
17Vậy tôi há đã dùng một người nào trong những kẻ tôi sai đến cùng anh em mà lấy lợi của anh em chăng?
18Noi aku la au ia Tito, a hoouna pu aku la au me ia i kekahi hoahanau: ua waiwai anei o Tito ia oukou? aole anei makou i hele ma ka manao hookahi, a ma ke kapuwai hookahi?
18Tôi đã xin Tít đi thăm anh em, lại đã sai một người trong anh em chúng tôi cùng đi với người. Có phải là Tít đã lấy lợi của anh em không? Chúng tôi há chẳng bước đi bởi một Thánh Linh, theo cùng một dấu chân sao?
19Eia hoi, ke manao nei anei oukou e hoakaka makou ia makou iho ia oukou? E na mea aloha, ke olelo nei makou imua o ke Akua ma o Kristo la, no ka hookupaa aku ia oukou keia mau mea a pau.
19Đã lâu nay, anh em tưởng rằng chúng tôi tìm cách chữa mình trước mặt anh em. Aáy là trong Đấng Christ, trước mặt Đức Chúa Trời mà chúng tôi nói; hỡi những kẻ rất yêu dấu, mọi điều đó thảy vì sự gây dựng cho anh em.
20No ka mea, ko makau nei au, a i kuu hiki aku, e ike aku paha auanei au ia oukou aohe like me kuu makemake, a e ikea mai hoi au e oukou aohe like me ko oukou makemake: malia paha o ikea auanei ka hakaka, ka ukiuki, ka inaina, ka hoopaapaa, ke aki, ka ohumu, ka hoohaha, a me ka haunaele.
20Vì tôi e rằng khi tôi đến, chẳng thấy anh em như tôi ước ao, lại về phần anh em, chẳng thấy tôi như anh em đã ước ao chăng. Tôi còn e rằng trong các anh em có những điều rầy rà, ghen ghét, nóng giận, bất hòa, nói hành, nói gần nói xa, kiêu căng, hỗn loạn chăng.
21Anoai paha o hoohaahaa iho no hoi kuu Akua ia'u iwaena o oukou, i kuu hiki hou ana'ku; a kanikau iho au i na mea he nui i hana hewa e mamua, aole hoi i mihi i ka haumia, a me ka moekolohe, a me ke kuulala a lakou i hana'i.
21Có lẽ nào khi tôi đến nơi anh em, Đức Chúa Trời lại làm cho tôi phải hạ mình xuống về việc anh em một lần nữa, và tôi sẽ phải khóc lóc về nhiều kẻ trước đã phạm tội mà không ăn năn về những sự ô uế, gian dâm, luông tuồng họ đã phạm, hay sao?
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.