Korineto II.
Chapter 7

Korineto II.

Baibala Hemolele (Hawaii…
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1NO ia hoi, e ka poe i alohaia, no ka loaa ana mai ia kakou o neia mau olelo hoopomaikai, e hoomaemae kakou ia kakou iho i na mea paumaele a pau o ke kino a me ka uhane, a hoopaa ana hoi i ka maikai ma ka makau i ke Akua.
1Hỡi những kẻ rất yêu dấu của tôi, chúng ta đã có lời hứa dường ấy, thì hãy làm cho mình sạch khỏi mọi sự dơ bẩn phần xác thịt và phần thần linh, lại lấy sự kính sợ Đức Chúa Trời mà làm cho trọn việc nên thánh của chúng ta.
2E ike mai oukou ia makou; aole makou i hana ino aku i kekahi, aole hoi makou i hookolohe aku i kekahi, aole no hoi makou i alunu aku i ka kekahi.
2Hãy mở lòng anh em cho chúng tôi: chúng tôi chẳng có làm hại ai, lừa dối ai; thủ lợi ai.
3Aole au e olelo aku ia mea no ka hoohewa aku; no ka mea, ua i aku la au mamna, eia oukou iloko o ko makou naau, e make pa a e ola pu hoi.
3Tôi chẳng nói điều đó để buộc tội anh em; vì tôi đã nói rằng lòng chúng tôi thuộc về anh em, dầu sống hay chết cũng vậy.
4He nui ka wiwo ole o kuu olelo ana aku ia oukou, he nui hoi kuu kaena ana no oukou: na piha au i ka oluolu, na nui loa kuu olioli iloko o ko makou popilikia a pau.
4Tôi nói với anh em cách bạo dạn; tôi có nhiều lẽ khoe mình vì anh em; tôi được đầy sự yên ủi, tôi được vui mừng quá bội ở giữa mọi sự khó khăn.
5No ka mea, ia makou i hele mai ai i Makedonia, aole i loaa i ko makou kino ka maha iki, ua pilikia makou ma na aoao a pau; mawaho he hakaka, maloko he makau.
5Vả, khi chúng tôi đến trong xứ Ma-xê-đoan, xác thịt chẳng được yên nghỉ chút nào. Chúng tôi khốn đốn đủ mọi cách: ngoài thì có sự chiến trận, trong thì có sự lo sợ.
6Aka, o ke Akua nana e hooluolu mai i ka poe haahaa, oia ka i hooluolu mai ia makou i ka hele ana mai o Tito;
6Nhưng Đức Chúa Trời là Đấng yên ủi kẻ ngã lòng, đã yên ủi tôi bởi Tít đến nơi;
7Aole wale no i kona hele ana mai; aka, i ka oluolu ana i hooluoluia'i e oukou, i ka hai ana mai ia makou i ko oukou iini ana, i ko oukou uwe ana, a me ko oukou manao ikaika ia'u; nolaila, na nui kuu olioli.
7không những bởi người đến mà thôi, nhưng lại bởi sự yên ủi người đã nhận lãnh nơi anh em nữa: người có nói cho chúng tôi biết anh em rất ao ước, khóc lóc, và có lòng sốt sắng đối với tôi, điều đó làm cho tôi càng vui mừng thêm.
8Nolaila, aole au e mihi nei i kuu hana eha ana ia oukou i ka palapala; ua mihi no nae au mamua; no ka mea, ke ike nei au, he pokole wale no ko oukou eha i na palapala la.
8Dầu nhơn bức thơ tôi, đã làm cho anh em buồn rầu, thì tôi chẳng lấy làm phàn nàn; mà nếu trước đã phàn nàn (vì tôi thấy bức thơ ấy ít nữa cũng làm cho anh em buồn rầu trong một lúc),
9Ano, ke olioli nei au, aole i ko oukou hana eha ia, aka, i hana eha ia oukou e mihi ai; no ka mea, ua hana eha ia oukou ma ka ke Akua, i loaa ole ia oukou ka hewa e makou.
9nay tôi lại mừng, không phải mừng về sự anh em đã phải buồn rầu, song mừng về sự buồn rầu làm cho anh em sanh lòng hối cải. Thật, anh em đã buồn rầu theo ý Đức Chúa Trời, đến nỗi chưa chịu thiệt hại bởi chúng tôi chút nào.
10No ka mea, o ka eha ana mai i ke Akua, nolaila mai ka mihi ola e mihi ole ia'i: aka, o ka eha ana o ko ke ao nei, oia ka mea e make ai.
10Vì sự buồn rầu theo ý Đức Chúa Trời sanh ra sự hối cải, và sự hối cải dẫn đến sự rỗi linh hồn; về sự đó người ta chẳng hề ăn năn, còn sự buồn rầu theo thế gian sanh ra sự chết.
11Aia hoi, o na mea la a oukou i hana eha ia'i ma ka ke Akua, he nui ka ikaika i hanaia e ia iloko o oukou, oia, he hoakaka, oia, he huhu, oia, he makau, oia, he iini nui, oia, he manao ikaika, oia, he hoopai! ma na mea a pau, ua hoike mai oukou ia oukou iho, he hala ole i keia mea.
11Vậy, hãy xem, sự buồn rầu theo ý Đức Chúa Trời sanh ra sự ân cần trong anh em là dường nào! Lại có sự chữa chối, buồn giận, răn sợ, sốt sắng, nông nả, trách phạt là dường nào! Anh em đã tỏ ra cho ai nấy đều biết rằng mình vốn là thanh sạch trong việc đó.
12No ia hoi, aole au i palapala aku ia oukou no ka mea nana ka hana hewa ana'ku, aole hoi no ka mea i hana hewa ia'ku, aka, i akaka ia oukou ko makou malama ana ku ia oukou imua o ke Akua.
12Lại còn, nếu tôi đã viết thơ cho anh em, ấy không phải vì cớ kẻ làm sự trái nghịch, cũng không phải vì cớ kẻ chịu sự trái nghịch; nhưng hầu cho lòng anh em yêu chuộng chúng tôi được tỏ ra giữa anh em ở trước mặt Đức Chúa Trời.
13No ia mea, ua hooluoluia mai makou i ko oukou oluolu ana: a ua oi aku ko makou olioli no ka olioli ana o Tito, no ka mea, ua hoomahaia kona naau e oukou a pau.
13Aáy là điều đã yên ủi chúng tôi. Nhơn sự yên ủi đó chúng tôi lại được sự vui mừng càng lớn hơn nữa, khi thấy sự vui mừng của Tít; vì anh em thảy đều đã để cho tâm thần người được yên lặng.
14No ia mea, ina au i kaena aku ia ia i kekahi mea no oukou, aole o'u hilahila; aka, me makou i olelo aku ai i na mea a pau ia oukou ma ka oiaio, pela hoi ko makou kaena ana imua o Tito, ua ikeia he oiaio.
14Nếu tôi đã khoe mình với Tít về anh em trong sự gì, thì tôi cũng chẳng hổ thẹn; nhưng vì chúng tôi đã thường nói điều thật với anh em, nên lời khen về anh em mà chúng tôi khoe với Tít cũng thấy là thật.
15A ua mahuahua aku konaaloha ia oukou i kona hoomanao ana i ka hoolohe o oukou a pau, i ko oukou hookipa ana ia ia me ka makau a me ka haalulu.
15Khi người nhớ đến sự vâng lời của anh em hết thảy, và anh em tiếp người cách sợ sệt run rẩy dường nào, thì tình yêu thương của người đối với anh em càng bội lên.
16He hauoli ko'u, no ka mea, ke manao pono nei au ia oukou ma na mea a pau.
16Tôi vui mừng vì có thể tin cậy anh em trong mọi sự.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.