2 Corinthians 7
Douay-Rheims Bible, American Edition (1899)Translation
Douay-Rheims Bible, American Edition (1899)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Having therefore these promises, dearly beloved, let us cleanse ourselves from all defilement of the flesh and of the spirit, perfecting sactification in the fear of God.
1Hỡi những kẻ rất yêu dấu của tôi, chúng ta đã có lời hứa dường ấy, thì hãy làm cho mình sạch khỏi mọi sự dơ bẩn phần xác thịt và phần thần linh, lại lấy sự kính sợ Đức Chúa Trời mà làm cho trọn việc nên thánh của chúng ta.
2Receive us. We have injured no man, we have corrupted no man, we have overreached no man.
2Hãy mở lòng anh em cho chúng tôi: chúng tôi chẳng có làm hại ai, lừa dối ai; thủ lợi ai.
3I speak not this to your condemnation. For we have said before, that you are in our hearts, to die together, and to live together.
3Tôi chẳng nói điều đó để buộc tội anh em; vì tôi đã nói rằng lòng chúng tôi thuộc về anh em, dầu sống hay chết cũng vậy.
4Great is my confidence for you, great is my glorying for you. I am filled with comfort: I exceedingly abound with joy in all our tribulation.
4Tôi nói với anh em cách bạo dạn; tôi có nhiều lẽ khoe mình vì anh em; tôi được đầy sự yên ủi, tôi được vui mừng quá bội ở giữa mọi sự khó khăn.
5For also when we were come into Macedonia, our flesh had no rest, but we suffered all tribulation; combats without, fears within.
5Vả, khi chúng tôi đến trong xứ Ma-xê-đoan, xác thịt chẳng được yên nghỉ chút nào. Chúng tôi khốn đốn đủ mọi cách: ngoài thì có sự chiến trận, trong thì có sự lo sợ.
6But God, who comforteth the humble, comforted us by the coming of Titus.
6Nhưng Đức Chúa Trời là Đấng yên ủi kẻ ngã lòng, đã yên ủi tôi bởi Tít đến nơi;
7And not by his coming only, but also by the consolation, wherewith he was comforted in you, relating to us your desire, your mourning, your zeal for me, so that I rejoiced the more.
7không những bởi người đến mà thôi, nhưng lại bởi sự yên ủi người đã nhận lãnh nơi anh em nữa: người có nói cho chúng tôi biết anh em rất ao ước, khóc lóc, và có lòng sốt sắng đối với tôi, điều đó làm cho tôi càng vui mừng thêm.
8For although I made you sorrowful by my epistle, I do not repent; and if I did repent, seeing that the same epistle (although but for a time) did make you sorrowful;
8Dầu nhơn bức thơ tôi, đã làm cho anh em buồn rầu, thì tôi chẳng lấy làm phàn nàn; mà nếu trước đã phàn nàn (vì tôi thấy bức thơ ấy ít nữa cũng làm cho anh em buồn rầu trong một lúc),
9Now I am glad: not because you were made sorrowful; but because you were made sorrowful unto penance. For you were made sorrowful according to God, that you might suffer damage by us in nothing.
9nay tôi lại mừng, không phải mừng về sự anh em đã phải buồn rầu, song mừng về sự buồn rầu làm cho anh em sanh lòng hối cải. Thật, anh em đã buồn rầu theo ý Đức Chúa Trời, đến nỗi chưa chịu thiệt hại bởi chúng tôi chút nào.
10For the sorrow that is according to God worketh penance, steadfast unto salvation; but the sorrow of the world worketh death.
10Vì sự buồn rầu theo ý Đức Chúa Trời sanh ra sự hối cải, và sự hối cải dẫn đến sự rỗi linh hồn; về sự đó người ta chẳng hề ăn năn, còn sự buồn rầu theo thế gian sanh ra sự chết.
11For behold this selfsame thing, that you were made sorrowful according to God, how great carefulness it worketh in you; yea defence, yea indignation, yea fear, yea desire, yea zeal, yea revenge: in all things you have shewed yourselves to be undefiled in the matter.
11Vậy, hãy xem, sự buồn rầu theo ý Đức Chúa Trời sanh ra sự ân cần trong anh em là dường nào! Lại có sự chữa chối, buồn giận, răn sợ, sốt sắng, nông nả, trách phạt là dường nào! Anh em đã tỏ ra cho ai nấy đều biết rằng mình vốn là thanh sạch trong việc đó.
12Wherefore although I wrote to you, it was not for his sake that I did the wrong, nor for him that suffered it; but to manifest our carefulness that we have for you
12Lại còn, nếu tôi đã viết thơ cho anh em, ấy không phải vì cớ kẻ làm sự trái nghịch, cũng không phải vì cớ kẻ chịu sự trái nghịch; nhưng hầu cho lòng anh em yêu chuộng chúng tôi được tỏ ra giữa anh em ở trước mặt Đức Chúa Trời.
13Before God: therefore we were comforted. But in our consolation, we did the more abundantly rejoice for the joy of Titus, because his spirit was refreshed by you all.
13Aáy là điều đã yên ủi chúng tôi. Nhơn sự yên ủi đó chúng tôi lại được sự vui mừng càng lớn hơn nữa, khi thấy sự vui mừng của Tít; vì anh em thảy đều đã để cho tâm thần người được yên lặng.
14And if I have boasted any thing to him of you, I have not been put to shame; but as we have spoken all things to you in truth, so also our boasting that was made to Titus is found a truth.
14Nếu tôi đã khoe mình với Tít về anh em trong sự gì, thì tôi cũng chẳng hổ thẹn; nhưng vì chúng tôi đã thường nói điều thật với anh em, nên lời khen về anh em mà chúng tôi khoe với Tít cũng thấy là thật.
15And his bowels are more abundantly towards you; remembering the obedience of you all, how with fear and trembling you have received him.
15Khi người nhớ đến sự vâng lời của anh em hết thảy, và anh em tiếp người cách sợ sệt run rẩy dường nào, thì tình yêu thương của người đối với anh em càng bội lên.
16I rejoice that in all things I have confidence in you.
16Tôi vui mừng vì có thể tin cậy anh em trong mọi sự.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.