2 Korin
Chapter 12
Asang Khongca Bible (Eas…
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Amoek hae kai han atho om ai, toe Angraeng mah ang patuek ih hmuen hoi amtuengsak ih hmuennawk to kam oek haih han vop.
1Tôi cần phải khoe mình, dầu chẳng có ích gì; nhưng tôi sẽ nói đến các sự hiện thấy và sự Chúa đã tỏ ra.
2Kalaem tangcae saning hatlai palito naah Kri ah kaom kami maeto ka panoek, (taksa ah maw, ka thui thai ai; taksa ai ah maw, ka thui thai ai: Sithaw mah panoek;) to kami to van asom thumto haih ah lak tahang.
2Tôi biết một người trong Đấng Christ, cách mười bốn năm trước, đã được đem lên đến từng trời thứ ba (hoặc trong thân thể người, hoặc ngoài thân thể người, tôi chẳng biết, có Đức Chúa Trời biết).
3To kami maeto to ka panoek, (taksa ah maw, to tih ai boeh loe taksa ai ah, ka thui thai ai: Sithaw mah panoek;)
3Tôi biết người đó (hoặc trong thân thể người, hoặc ngoài thân thể người, tôi cũng chẳng biết, có Đức Chúa Trời biết)
4anih loe paradise ah lak tahang moe, lok hoiah thuilaek ai, kami mah thuih koi ai loknawk to a thaih.
4được đem lên đến chốn Ba-ra-đi, ở đó, nghe những lời không thể nói, mà không có phép cho người nào nói ra.
5To baktih kami maeto to kam oek haih han: ka thazokhaih khue ai ah loe, kaimah hoi kaimah loe kam oek haih mak ai.
5Về người đó, tôi sẽ khoe mình; nhưng về chính mình tôi, tôi không khoe, chỉ khoe về sự yếu đuối của tôi mà thôi.
6Amoek han ka koeh aep to mah, kamthu ah ka om mak ai; loktang ni ka thuih han. Toe kami mah kai to hnuk moe, kai khae hoi a thaih ih tamthang pong kamthlai ah a poek moeng han ai ah, thui ai ah ka oh.
6Dầu tôi muốn khoe mình, thì cũng không phải là một người dại dột, vì tôi sẽ nói thật; nhưng tôi giữ, không nói, hầu cho chẳng ai nghĩ tôi vượt quá sự họ thấy ở nơi tôi và nghe tôi nói.
7Thuilaek ai amtuenghaih ka hnuk pongah, ka sakthaihaih pong kamthlai ah kam oek moeng han ai ah, kai pacaekthlaek hanah Setan ih laicaeh maeto ah kaom, soekhring to ka taksa thungah ang suek pae.
7Vậy nên, e rằng tôi lên mình kiêu ngạo bởi sự cao trọng cả thể của những sự tỏ ra ấy chăng, thì đã cho một cái giằm xóc vào thịt tôi, tức là quỉ sứ của Sa-tan, để vả tôi, và làm cho tôi đừng kiêu ngạo.
8Hae baktih karai hmuen ang takhoe pae ving hanah, Angraeng khaeah vai thumto tahmenhaih ka hnik.
8Đã ba lần tôi cầu nguyện Chúa cho nó lìa xa tôi.
9Toe Anih mah kai khaeah, Ka tahmenhaih loe nang hanah khawt: thazok naah ni ka thacakhaih hoiah akoep, tiah ang naa. Kri thacakhaih ka nuiah oh thai hanah, ka thazokhaih to ni kam oek haih han.
9Nhưng Chúa phán rằng: Aân điển ta đủ cho ngươi rồi, vì sức mạnh của ta nên trọn vẹn trong sự yếu đuối. Vậy, tôi sẽ rất vui lòng khoe mình về sự yếu đuối tôi, hầu cho sức mạnh của Đấng Christ ở trong tôi.
10To pongah Kri hanah loe thazokhaih, kasae thuihaih, amtanghaih, pacaekthlaekhaih hoi karai tonghaihnawk to ka koeh: tha ka zok naah, thacakhaih hoiah ka koi.
10Cho nên tôi vì Đấng Christ mà đành chịu trong sự yếu đuối, nhuốc nhơ, túng ngặt, bắt bớ, khốn khó; vì khi tôi yếu đuối, ấy là lúc tôi mạnh mẽ.
11Kai loe kamthu maeto baktiah kam oek boeh; toe nangcae mah ni to tiah nang oh o sak. Kai hae nang pakoeh o han oh; kai loe tidoeh na ai ni, toe patoeh ih kalen koek kami pongah ka hnaem kue ai.
11Tôi đã nên dại dột bởi anh em ép uổng tôi; lẽ thì anh em khen lao tôi mới phải, vì dầu tôi không ra gì, cũng chẳng kém các sứ đồ rất lớn kia chút nào.
12Nangcae khaeah ka oh naah, palungsawkhaih hoiah ni ka oh, angmathaih hmuennawk, dawnrai koi kaom hmuennawk to patoeh ih kami maeto mah anghmang kaom thacakhaih hoiah nangcae salakah kamnoek ah amtuengsak boeh.
12Các bằng cớ về chức sứ đồ tôi đã tỏ ra trong anh em bởi sự nhịn nhục mọi đàng, bởi các dấu lạ, các sự khác thường, và các phép lạ.
13Nangcae han hmuenzit ah ka om ai tiah thuih ih lok thui ai ah loe, kawbaktih hmuen pongah maw kalah kricaabunawk pongah na hnaem o kuehaih oh? To tiah ka sakpazaehaih to na tahmen oh.
13Vả, nếu trừ ra sự chính tôi không làm lụy cho anh em, thì anh em có việc gì mà chẳng bằng các Hội thánh khác? Xin tha thứ cho tôi sự không công bình đó!
14Khenah, nangcae khaeah vai thumto haih paqai hanah kam sak; toe nangcae raihaih kang paek mak ai: na tawnh o ih hmuenmae to ka pakrong ai, nangmacae to ni ka pakrong. Nawktanawk mah amno hoi ampa hanah hmuenmae patung pae ai, amno hoi ampa mah ni nawktanawk hanah hmuenmae patung pae.
14Nầy là lần thứ ba tôi sẵn sàng đi đến cùng anh em, và tôi sẽ chẳng làm lụy cho anh em đâu, vì không phải tôi tìm của cải anh em, bèn là tìm chính anh em vậy; thật, chẳng phải con cái nên chứa của quí cho cha mẹ, nhưng thà cha mẹ chứa cho con cái thì hơn.
15Kai nang palung o ai cadoeh, kai mah kang palung o parai pongah, kaimah hoi ka tawnh ih hmuennawk boih hae nangcae hinghaih pakhra hanah anghoehaih hoi ka patoh han.
15Về phần tôi, tôi rất vui lòng phí của và phí trọn cả mình tôi vì linh hồn anh em, dẫu rằng tôi yêu anh em thêm, mà cần phải bị anh em yêu tôi kém.
16To tiah sak naah doeh, raihaih kang paek o ai: toe thoemto kaminawk mah loe anih mah ang ling, palunghahaih hoiah kaicae ang ling, tiah a thuih o.
16Tuy rằng tôi chưa từng làm lụy cho anh em, nhưng tôi là người khôn khéo, đã dùng mưu kế mà bắt lấy anh em!
17Nangcae khaeah ka patoeh ih kaminawk mah ang ling o maw?
17Vậy tôi há đã dùng một người nào trong những kẻ tôi sai đến cùng anh em mà lấy lợi của anh em chăng?
18Titu to ka pacae moe, nawkamya maeto hoiah nawnto anih to kang patoeh. Titu mah hmuenmae ang lak pae o maw? Kaicae loe poek anghmonghaih hoiah tok ka sah o ai maw? Kanghmong loklam to ka pazui o ai maw?
18Tôi đã xin Tít đi thăm anh em, lại đã sai một người trong anh em chúng tôi cùng đi với người. Có phải là Tít đã lấy lợi của anh em không? Chúng tôi há chẳng bước đi bởi một Thánh Linh, theo cùng một dấu chân sao?
19To pacoeng bae ah, kaicae loe kaimacae pakahaih lok ni ka thuih o, tiah na poek o maw? Kri ah ka oh o baktih toengah, Sithaw hmaa ah ni lok ka thuih o: toe nawkamyanawk, nangcae qoeng thaih han ih ni, hmuennawk boih hae ka sak o.
19Đã lâu nay, anh em tưởng rằng chúng tôi tìm cách chữa mình trước mặt anh em. Aáy là trong Đấng Christ, trước mặt Đức Chúa Trời mà chúng tôi nói; hỡi những kẻ rất yêu dấu, mọi điều đó thảy vì sự gây dựng cho anh em.
20Nangcae khae kang zoh naah, ka hnuk koeh ih hmuen to ka hnu mak ai, nangcae mah doeh kai khae hoi hnuk han koeh ih hmuen to na hnu o mak ai ah, lok angaekhaih, uthaih, palungphuihaih, angzoehhaih, kasaethuihaih, pronghaih, amoekhaih hoi lokpunghaihnawk to om lat moeng tih, tiah zithaih ka tawnh:
20Vì tôi e rằng khi tôi đến, chẳng thấy anh em như tôi ước ao, lại về phần anh em, chẳng thấy tôi như anh em đã ước ao chăng. Tôi còn e rằng trong các anh em có những điều rầy rà, ghen ghét, nóng giận, bất hòa, nói hành, nói gần nói xa, kiêu căng, hỗn loạn chăng.
21nangcae khae kang zoh let naah, nangcae salakah kaom paroeai kaminawk loe a sak o ih zaehaihnawk to caeh o taak ai moe, ciimcai ai hmuen, tamquta hoi nongpa nongpata zae sakhaih, taksa koehhaih baktiah a sak o ih zaehaihnawk to dawnpakhuem o ai ah, vaihi khoek to a sak o vop pongah, ka Sithaw mah nangcae hma ah azathaih na tongsak ueloe, palung kasae moeng tih.
21Có lẽ nào khi tôi đến nơi anh em, Đức Chúa Trời lại làm cho tôi phải hạ mình xuống về việc anh em một lần nữa, và tôi sẽ phải khóc lóc về nhiều kẻ trước đã phạm tội mà không ăn năn về những sự ô uế, gian dâm, luông tuồng họ đã phạm, hay sao?

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.