2 Korin 2
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Palungsethaih hoiah nangcae khae kang zoh let han ai boeh, tiah lok ka takroek boeh.
1Vậy, chính tôi đã quyết định không trở lại cùng anh em để làm cho anh em buồn rầu;
2Nangcae palung kang set o sak ving nahaeloe, palung ka setsak ih kaminawk mah ai ah loe, mi mah maw kai palung anghoesak tih?
2vì nếu tôi làm cho anh em buồn rầu, thì thể nào tôi được trông cậy sự vui bởi kẻ mà chính tôi đã làm cho buồn rầu?
3Kang hoehaih loe nangcae boih anghoehaih ah oh, tiah oephaih ka tawnh, kang zoh naah, kai anghoesak kaminawk khae hoiah palungsethaih ka hnuk moeng han ai ah to tiah ca kang tarik o.
3Tôi đã viết cho anh em như thế, hầu cho khi tôi đến nơi, sẽ không buồn bởi kẻ đáng làm cho tôi vui: tôi tin cậy ở hết thảy anh em rằng, anh em ai nấy đều lấy sự vui của tôi mà làm vui mình.
4Nangcae nuiah kating ai amlunghaih ka tawnh, tiah na panoek o moe, palung na set o han ai ih ni patangkhanghaih, poek amtanghaih, paroeai mikkhraetui krakhaih hoiah ca kang tarik o.
4Vả, ấy là đang trong cơn khốn nạn lớn, tấm lòng quặn thắt, nước mắt dầm dề, mà tôi đã viết thơ cho anh em, nào phải để cho anh em âu sầu, nhưng để làm cho anh em biết tình yêu dấu riêng của tôi đối với anh em vậy.
5Nangcae thung ih kami maeto mah palung saesak nahaeloe, anih mah kai palung na saesak ai, nangcae thung ih thoemto kaminawk mah ni palung ang set o sak: nangcae raihaih tongsak han ka koeh ai.
5Nếu kẻ nào làm cớ buồn rầu, ấy chẳng phải chỉ làm cho tôi buồn rầu mà thôi, nhưng đã làm cho anh em thảy đều buồn rầu ít nhiều, tôi chẳng muốn nói quá làm gì.
6Kapop kami mah khaeh ih lok baktiah ni kami maeto mah sakpazae ih hmuen pongah danpaek han oh.
6Kẻ đó đã bị phần nhiều người trong anh em quở trách, ấy là đủ rồi;
7Palungsethaih mah pazawk hmoek han ai ah, to baktih zaehaih sah kami to buenglueng tamlet ah na tahmen o moe, na pathloep o lat han oh.
7thà nay anh em tha thứ yên ủi, hầu cho người khỏi bị sa ngã vì sự buồn rầu quá lớn.
8To pongah anih na palunghaih to tangtang ah amtuengsak hanah kang pacae o.
8Vậy tôi xin anh em hãy bày tỏ lòng yêu thương đối với người đó.
9Hmuen boih ah ka thuih ih lok baktiah na sak o maw sah ai, tiah panoek hanah hae ca hae kang tarik o.
9Bởi chưng tôi viết thơ cho anh em, cốt để thử anh em xem có vâng lời trong cả mọi sự cùng chăng.
10Zaehaih na tahmen o ih kami to, kaimah doeh ka tahmen toeng: kawbaktih zaehaih doeh ka tahmen nahaeloe, nangcae rang hoiah ni Kri ah ka tahmen:
10Nhưng anh em tha thứ ai, thì tôi cũng tha thứ. Vả, nếu tôi đã tha, là vì anh em mà tha, ở trước mặt Đấng Christ,
11to tih ai nahaeloe Setan mah aicae pazawk moeng tih: aicae loe anih pacaenghaih panoek kami ah ni a oh o.
11hầu đừng để cho quỉ Sa-tan thắng chúng ta, vì chúng ta chẳng phải là không biết mưu chước của nó.
12Kri tamthanglok hoih thuih hanah Troas vangpui ah ka caeh naah, Angraeng mah kai hanah loklam ang paongh pae,
12Lại khi tôi đã đến thành Trô-ách đặng giảng Tin Lành của Đấng Christ, dầu Chúa đã mở cửa cho tôi ở đó,
13kam nawk Titu to ka hnu ai pongah, poek monghaih roe ka tawn ai: to pongah kalah hnukbang kaminawk to ka caehtaak moe, kaimah loe Macedonia prae ah ka caeh.
13mà vì tôi không gặp anh em tôi là Tít, nên chẳng được yên lòng. Vậy sau khi từ giã các tín đồ, thì tôi qua xứ Ma-xê-đoan.
14Anih panoekhaih loe hmuihoih ah oh moe, ahmuen kruekah Kri panoekhaih pungsak hanah, Sithaw mah aicae abom pongah, vaihi Kri ah aicae han taahaih hnusakkung, Sithaw khaeah oephaih om nasoe.
14Song tạ ơn Đức Chúa Trời, Ngài làm cho chúng tôi được thắng trong Đấng Christ luôn luôn, và bởi chúng tôi, Ngài rải mùi thơm về sự nhận biết Ngài khắp chốn!
15Pahlong kaminawk hoi kanghmaa kaminawk hanah, aicae loe Sithaw khaeah Kri ih hmuihoih ah ni a oh o:
15Vì chúng tôi ở trước mặt Đức Chúa Trời là mùi thơm của Đấng Christ, ở giữa kẻ được cứu, và ở giữa kẻ bị hư mất;
16aicae loe anghmaa kami maeto hanah duek khoek to duekhaih hmuihoih ah a oh o, kalah pahlong kaminawk hanah loe hinghaih paekkung hinghaih hmuihoih ah a oh o. To tih nahaeloe hae hmuen hoiah akoep kami mi maw kaom?
16cho kẻ nầy, mùi của sự chết làm cho chết; cho kẻ kia, mùi của sự sống làm cho sống. Ai xứng đáng cho những sự nầy?
17Aicae loe Sithaw ih lok amrosak, pop parai kaminawk baktiah a om o ai: palung angpaekhaih hoiah Sithaw koehhaih baktiah ni, Sithaw hmaa ah Kri tamthanglok to a thuih o.
17Vả, chúng tôi chẳng giả mạo lời của Đức Chúa Trời như nhiều kẻ khác; nhưng chúng tôi lấy lòng chân thật, theo như đạo từ Đức Chúa Trời đến thể nào, thì giảng ra thể ấy trước mặt Đức Chúa Trời, trong Đấng Christ.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.