Sentencoj
Chapter 6
Londona Biblio (Esperant…
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers

Sentencoj 6

Londona Biblio (Esperanto, 1910)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Mia filo! se vi garantiis por via proksimulo Kaj donis vian manon por aliulo,
1Hỡi con, nếu con có bảo lãnh cho kẻ lân cận mình, Nếu con giao tay mình vì người ngoại,
2Tiam vi enretiĝis per la vortoj de via buŝo, Kaptiĝis per la vortoj de via buŝo.
2Thì con đã bị lời miệng mình trói buộc, Mắc phải lời của miệng con.
3Tiam, mia filo, agu tiel kaj saviĝu, Ĉar vi falis en la mano de via proksimulo: Iru, vigliĝu, kaj petegu vian proksimulon;
3Hỡi con, bởi vì con đã sa vào tay kẻ lân cận con, Hỡi làm điều nầy và giải cứu mình con: Hãy đi hạ mình xuống, nài xin người lân cận con;
4Ne lasu viajn okulojn dormi Kaj viajn palpebrojn dormeti;
4Chớ để cho hai mắt con ngủ, Hoặc mí mắt con chợp lại;
5Savu vin, kiel gazelo, el la mano, Kaj kiel birdo el la mano de la birdokaptisto.
5Hãy giải cứu mình khỏi người như con hoàng dương thoát khỏi tay thợ săn, Như con chim thoát khỏi tay kẻ đánh rập.
6Iru al la formiko, vi maldiligentulo; Rigardu ĝian agadon, kaj saĝiĝu.
6Hỡi kẻ biếng nhác, hãy đi đến loài kiến; Khá xem xét cách ăn ở nó mà học khôn ngoan.
7Kvankam ĝi ne havas estron, Nek kontrolanton, nek reganton,
7Tuy nó không có hoặc quan tướng, Hoặc quan cai đốc, hay là quan trấn,
8Ĝi pretigas en la somero sian panon, Ĝi kolektas dum la rikolto sian manĝon.
8Thì nó cũng biết sắm sửa lương phạn mình trong lúc mùa hè, Và thâu trữ vật thực nó trong khi mùa gặt.
9Ĝis kiam, maldiligentulo, vi kuŝos? Kiam vi leviĝos de via dormo?
9Hỡi kẻ biếng nhác, ngươi sẽ nằm cho đến chừng nào? Bao giờ ngươi sẽ ngủ thức dậy?
10Iom da dormo, iom da dormeto, Iom da kunmeto de la manoj por kuŝado;
10Ngủ một chút, chợp mắt một chút, Khoanh tay nằm một chút,
11Kaj venos via malriĉeco kiel rabisto, Kaj via senhaveco kiel viro armita.
11Thì sự nghèo khổ của ngươi sẽ đến như kẻ đi rảo, Và sự thiếu thốn của ngươi tới như người cầm binh khí.
12Homo sentaŭga, homo malbonfarema, Iras kun buŝo malica,
12Người nào đi đứng có miệng giả dối, Là một kẻ vô loại, một người gian ác;
13Donas signojn per la okuloj, aludas per siaj piedoj, Komprenigas per siaj fingroj;
13Hắn liếc con mắt, dùng chân mình bày ý, Và lấy ngón tay mình ra dấu;
14Perverseco estas en lia koro, li intencas malbonon; En ĉiu tempo li semas malpacon.
14Trong lòng hắn vẫn có sự gian tà; Nó toan mưu ác luôn luôn, Và gieo sự tranh cạnh.
15Tial subite venos lia pereo; Li estos rompita subite, kaj neniu lin sanigos.
15Bới cớ ấy, tai họa sẽ xảy đến nó thình lình; Bỗng chúc nó bị bại hoại, không phương thế chữa được.
16Jen estas ses aferoj, kiujn la Eternulo malamas, Kaj sep, kiujn Li abomenegas.
16Có sáu điều Đức Giê-hô-va ghét, Và bảy điều Ngài lấy làm gớm ghiếc:
17Arogantaj okuloj, mensogema lango, Kaj manoj, kiuj verŝas senkulpan sangon,
17Con mắt kiêu ngạo, lưỡi dối trá, Tay làm đổ huyết vô tội
18Koro, kiu preparas malbonfarajn intencojn, Piedoj, kiuj rapidas kuri al malbono,
18Lòng toan những mưu ác, Chân vội vàng chạy đến sự dữ,
19Falsa atestanto, kiu elspiras mensogojn; Kaj tiu, kiu semas malpacon inter fratoj.
19Kẻ làm chứng gian và nói điều dối, Cùng kẻ gieo sự tranh cạnh trong vòng anh em.
20Konservu, mia filo, la ordonon de via patro, Kaj ne forĵetu la instruon de via patrino.
20Hỡi con, hãy giữ lời răn bảo của cha, Chớ lìa bỏ các phép tắc của mẹ con.
21Ligu ilin por ĉiam al via koro, Volvu ilin sur vian kolon.
21Khá ghi tạc nó nơi lòng con luôn luôn, Và đeo nó nơi cổ con.
22Kiam vi iros, ili gvidos vin; Kiam vi kuŝiĝos, ili vin gardos; Kaj kiam vi vekiĝos, ili parolos kun vi.
22Khi con đi, các lời đó sẽ dẫn dắt con; Lúc con ngủ, nó gìn giữ con; Và khi con thức dậy, thì nó sẽ trò chuyện với con.
23Ĉar moralordono estas lumingo, kaj instruo estas lumo, Kaj edifaj predikoj estas vojo de vivo,
23Vì điều răn là một cái đèn, luật pháp là ánh sáng, Và sự quở trách khuyên dạy là con đường sự sống,
24Por gardi vin kontraŭ malbona virino, Kontraŭ glata lango de fremdulino.
24Đặng giữ con khỏi người đàn bà ác nghiệp, Và khỏi lưỡi dua nịnh của dâm phụ.
25Ne deziregu en via koro ŝian belecon, Kaj ne kaptiĝu per ŝiaj palpebroj.
25Lòng con chớ tham muốn sắc nó, Đừng để mình mắc phải mí mắt nó.
26Ĉar la kosto de publikulino estas nur unu pano; Sed fremda edzino forkaptas la grandvaloran animon.
26Vì tại kỵ nữ có người nông nổi chỉ còn một miếng bánh mà thôi; Người dâm phụ vẫn lừa sẵn linh hồn quí báu.
27Ĉu iu povas teni fajron en sia sino tiel, Ke liaj vestoj ne brulu?
27Há có người nào để lửa trong lòng mình, Mà áo người lại chẳng bị cháy sao?
28Ĉu iu povas marŝi sur ardantaj karboj, Ne bruligante siajn piedojn?
28Há có ai đi trên than lửa hực, Mà chân mình lại chẳng bị phồng chăng?
29Tiel ankaŭ estas kun tiu, kiu venas al la edzino de sia proksimulo; Neniu, kiu ŝin ektuŝas, restas sen puno.
29Kẻ nào đi tới cùng vợ người lân cận mình cũng vậy; Phàm ai đụng đến nàng ắt chẳng được khỏi bị phạt.
30Oni ne faras grandan honton al ŝtelanto, Se li ŝtelas por sin satigi, kiam li malsatas;
30Người ta chẳng khinh dị kẻ trộm, Nếu nó ăn cắp đặng phỉ lòng mình khi đói khát;
31Kaj kiam oni lin kaptas, li pagas sepoble; La tutan havon de sia domo li fordonas.
31Hễ nó bị bắt, chắc phải thường bồi gấp bảy lần; Nó sẽ nộp hết tài sản của nhà nó.
32Sed kiu adultas kun virino, tiu estas sensaĝa; Tiu, kiu faras tion, pereigas sian animon;
32Kẻ nào phạm tội ngoại tình với người đàn bà, tất vô tâm vô trí: Ai làm như vậy, khiến cho linh hồn mình bị hư mất.
33Batojn kaj malhonoron li ricevas, Kaj lia honto ne elviŝiĝas;
33Người ấy sẽ bị thương tích và khinh bỉ, Sự sỉ nhục người sẽ chẳng bôi mất đi;
34Ĉar furiozas la ĵaluzo de la edzo; Kaj li ne indulgas en la tempo de la venĝo.
34Vì sự ghen ghét là điều giận dữ của người nam, Trong ngày báo thù, người không dung thứ;
35Li rigardas nenian kompenson, Kaj li ne akceptas, se vi volas eĉ multe donaci.
35Người sẽ chẳng nhận giá đền tội nào hết, Mặc dầu con gia tăng của lễ, người cũng không đặng phỉ ý đâu.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.