Dân 3
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
1Nầy là dòng dõi của A-rôn và Môi-se, về ngày Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se tại trên núi Si-na-i.
1EIA hoi na hanauna o Aarona laua o Mose, i ka la a Iehova i olelo mai ai ia Mose ma ka mauna o Sinai.
2Nầy là tên các con trai A-rôn: Trưởng nam là Na-đáp, A-bi-hu, Ê-lê-a-sa, và Y-tha-ma.
2Eia hoi na inoa o na keiki a Aarona; o Nadaba ka hiapo, o Abihu, o Eleazara, a o Itamara.
3Đó là tên các con trai A-rôn, tức những thầy tế lễ đã chịu phép xức dầu, và được lập lên để làm chức tế lễ.
3Oia na inoa o na keiki a Aarona, na kahuna i poniia, ana i hoolaa ai e lawelawe ma ka oihana kahuna.
4Vả, Na-đáp và A-bi-hu đã thác trước mặt Đức Giê-hô-va khi hai người dâng một thứ lửa lạ trước mặt Đức Giê-hô-va tại trong đồng vắng Si-na-i. Hai người nầy không có con. Còn Ê-lê-a-sa và Y-tha-ma làm chức tế lễ trước mặt A-rôn, là cha mình.
4A make iho la o Nadaba laua o Abihu imua o Iehova, ia laua i kaumaha aku ai i ke ahi e imua o Iehova ma ka waonahele o Sinai, aole hoi a laua keiki: a lawelawe aku la o Eleazara laua o Itamara ma ka oihana kahuna imua o na maka o Aarona o ko laua makuakane.
5Đức Giê-hô-va bèn phán cùng Môi-se rằng:
5Olelo mai la o Iehova ia Mose i mai la,
6Hãy khiến chi phái Lê-vi lại gần, đặt trước thầy tế lễ A-rôn, để người Lê-vi phục sự người.
6E hooneenee mai i ka ohana a Levi a kokoke, a e hoonoho ia lakou inula o Aarona ke kahuna, i lawelawe lakou nana.
7Người Lê-vi sẽ giữ chức phận của người và chức phận của cả hội chúng về trước hội mạc mà làm những công việc của đền tạm.
7Na lakou e malama i kana oihana, a me ka ke anainakanaka a pau ma ke alo o ka halelewa o ke anaina, e lawelawe i na mea o ka halelewa.
8Cũng phải coi sóc hết thảy đồ đạc của hội mạc và mọi vật chi dân Y-sơ-ra-ên giao cho đặng dùng làm công việc của đền tạm.
8Na lakou e malama i na mea hana a pau o ka halelewa o ke anaina, a me ka hana a na mamo a Iseraela, e hana'i i ka oihana o ka halelewa.
9Vậy, ngươi phải giao người Lê-vi cho A-rôn và cho các con trai người; vì đã lấy họ từ trong vòng dân Y-sơ-ra-ên mà ban trọn cho A-rôn rồi.
9E haawi ae oe i na Levi no Aarona a no kana mau keiki: ua haawiia lakou a lilo loa nona, noloko o ka Iseraela.
10Vậy, ngươi sẽ lập A-rôn và các con trai người, để làm chức tế lễ; người ngoại đến gần sẽ bị xử tử.
10E kauoha aku oe ia Aarona a me kana mau keiki, a e lawelawe lakou ma ka ke kahuna oihana; a o ke kanaka e ke hele mai a kokoke, e make ia.
11Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng:
11Olelo mai la o Iehova ia Mose, i mai la,
12Nầy, từ giữa dân Y-sơ-ra-ên ta chọn lấy người Lê-vi thế cho hết thảy con đầu lòng của dân Y-sơ-ra-ên; vậy, người Lê-vi sẽ thuộc về ta.
12Owau nei hoi, ua hookaawale ae nei au i na Levi maiwaena mai o na mamo a Iseraela, i pauai no na hiapo a pau i hanau mua o na mamo a Iseraela; no ia mea, no'u no na Levi.
13Vì hết thảy con đầu lòng đều thuộc về ta; ngày xưa khi ta hành hại các con đầu lòng trong xứ Ê-díp-tô, ta đã biệt riêng ra thánh cho ta hết thảy con đầu lòng trong Y-sơ-ra-ên, bất luận loài người hay thú vật; chúng nó đều sẽ thuộc về ta. Ta là Đức Giê-hô-va.
13No ka mea, no'u no na makahiapo a pau: i ka la a'u i luku ai i na makahiapo a pau ma ka aina o Aigupita, hoolaa iho la hoi au no'u i na makahiapo ma ka Iseraela, i ka na kanaka a me ka na holoholona; no'u no lakou; owau no Iehova.
14Đức Giê-hô-va lại phán cùng Môi-se tại trong đồng vắng Si-na-i mà rằng:
14Olelo mai la o Iehova ia Mose ma ka waonahele o Sinai, i mai la,
15Hãy kê sổ con cháu Lê-vi, tùy theo tông tộc và họ hàng chúng nó, kê hết thảy nam đinh từ một tháng sắp lên.
15E helu oe i na mamo o Levi mamuli o ko ka hale a ko lakou poe kupuna, ma ko lakou mau ohana: o na kane a pau mai ka malama hookahi a keu aku kau e helu aku ai.
16Môi-se bèn kê sổ người Lê-vi theo mạng của Đức Giê-hô-va, y như Ngài đã phán dặn người vậy.
16A helu iho la o Mose ia lakou mamuli o ka olelo a Iehoia, e like me ia i kauohaia mai ai
17Đây là các con trai của Lê-vi kể từng tên: Ghẹt-sôn, Kê-hát, và Mê-ra-ri.
17Eia hoi na keiki a Levi ma ko lakou mau inoa; o Geresona, o Kohata, a o Merari.
18Đây là tên của các con trai Ghẹt-sôn, tùy theo họ hàng mình: Líp-ni và Si-mê-y.
18A eia na inoa o na keiki a Geresona, ma ka laua mau ohana; o Libeni a o Simei.
19Đây là các con trai của Kê-hát tùy theo họ hàng mình: Am-ram, Dít-sa, Hếp-rôn và U-xi-ên;
19Eia hoi na keiki a Kohata ma ka lakou mau ohana; o Amerama, o Izehara, o Heberona a o Uziela.
20và các con trai của Mê-ra-ri, tùy theo họ hàng mình, là: Mách-li và Mu-si. Đó là những họ hàng của người Lê-vi, tùy theo tông tộc của họ.
20A o na keiki a Merari, ma ka laua mau ohana; o Maheli a o Musi: oia na ohana o na Levi, ma ko ka hale o ko lakou poe kupuna.
21Họ hàng Líp-ni và họ hàng Si-mê-y thuộc về Ghẹt-sôn. Đó là hai họ hàng của Ghẹt-sôn vậy.
21Na Geresona Ka ohana o na Libeni a me na Simei: oia na ohana o na keiki a Geresona.
22Những người trong họ Ghẹt-sôn được tu bộ, kể mọi nam đinh từ một tháng sắp lên, số là bảy ngàn năm trăm người.
22O ko lakou poe i heluia ma ka helu ana i na kane a pau, mai ka malama hookahi a keu aku, o ka poe o lakou i heluia, he ehiku tausani a me na haneri keu elima.
23Các họ hàng của Ghẹt-sôn đóng trại về phía tây, sau đền tạm.
23A e hoomoana na ohana o ka Geresona mahope o ka halelewa ma ka aoao komohana.
24Quan trưởng của tông tộc Ghẹt-sôn là Ê-li-a-sáp, con trai của La-ên.
24A o ka luna ohana o ke kupuna o ka Geresona, oia o Eliasapa ke keiki a Laeia.
25Chức phận của con cháu Ghẹt-sôn trong hội mạc là coi sóc mọi vật chi can đến đền tạm và Trại, tức là tấm bong của Trại và bức màn của cửa hội mạc,
25O ka mea a na mamo a Geresona e malama ai ma ka halelewa o ke anaina, oia o ka halelewa maloko, ka halelole a me ka mea uhi maluna, a me ka paku no ka puka o ka halelewa o ke anaina,
26các bố vi của hành lang, và bức màn của cửa hành lang bao phủ chung quanh đền tạm và bàn thờ, cùng dây chạc về các việc của đền tạm.
26A me na paku o ka pa, a me ka pale no ka puka o ka pa, ka mea e pili ana ma ka halelewa a ma ke kuahu a puni, a me kona mau kaula no na oihana a pau ona.
27Họ hàng Am-ram, họ hàng Dít-sa, họ hàng Hếp-rôn và họ hàng U-xi-ên thuộc về Kê-hát. Đó là những họ hàng của Kê-hát.
27Na Kohata ka ohana o ka Amerama, me ka ohana o ka Izehara, a me ka ohana o ka Heberona, a me ka ohana o ka Uziela; oia na ohana o ka Kohata.
28Cứ kể mọi nam đinh từ một tháng sắp lên, số là tám ngàn sáu trăm người có chức phận săn sóc nơi thánh.
28I ka helu ana i na kane a pau mai ka malama hookahi a keu aku, he ewalu tausani a me na haneri keu eono, e malama ana i na mea o kahi hoano.
29Các họ hàng của con cháu Kê-hát đóng trại bên hông đền tạm về phía nam.
29E hoomoana na ohana a na keiki a Kohata ma ka aoao hema o ka halelewa.
30Quan trưởng của tông tộc Kê-hát là Ê-li-sa-phan, con trai của U-xi-ên.
30A o ka luna o ka ohana kupuna o na ohana o ka Kohata, oia o Elizapana ke keiki a Uziela.
31Người Kê-hát coi sóc hòm bảng chứng, cái bàn, chân đèn, các bàn thờ, và những đồ đạc của nơi thánh để dùng về việc thờ phượng, luôn với bức màn và các vật chi can đến.
31O ka lakou mea e malama ai, oia ka pahu, ka papaaina, ka ipukukui, na kuahu, a me na ipu o ke keenakapu, na mea a lakou e lawelawe ai, a me ka pale a me kana oihana a pau.
32Tổng trưởng của người Lê-vi là Ê-lê-a-sa, con trai của thầy tế lễ A-rôn, được đặt lên quản trị những người coi sóc nơi thánh.
32A o Eleazara ke keiki a Aarona ke kahuna, oia ka luna maluna o ka luna o na Levi, a e nana aku ia maluna o ka poe malama i ka oihana o ke keenakapu.
33Họ hàng Mách-li và họ hàng Mu-si thuộc về Mê-ra-ri. Đó là hai họ hàng của Mê-ra-ri vậy.
33Na Merari ka ohana o ka Maheli a me ka ohana o ka Musi: oia na ohana na Merari.
34Những người trong bọn Mê-ra-ri được tu bộ, kể mọi nam đinh từ một tháng sắp lên, số là sáu ngàn hai trăm người.
34O na mea o lakou i heluia, ma ka helu ana i na kane a pau, mai ka malama hookahi a keu aku, eono ia tausani a me na haneri keu elua.
35Quan trưởng của tông tộc Mê-ra-ri là Xu-ri-ên, con trai của A-bi-hai. Con cháu Mê-ra-ri đóng trại bên hông đền tạm về phía bắc,
35A o ka luna o ko ka hale o ka makua nana na ohana o Merari, oia o Zuriela ke keiki a Abihaila: e hoomoana lakou ma ka aoao akau o ka halelewa.
36có phần coi sóc các tấm ván của đền tạm, cây xà ngang, trụ, lỗ trụ, những đồ đạc, và mọi việc thuộc về đó,
36A o ka oihana malama a na keiki a Merari, oia na papa o ka halelewa, me kona mau kaola, a me kona mau pou, a me kona mau kumu, a me kona mau ipu, a me ka oihana a pau ilaila,
37những trụ ở chung quanh hành lang và lỗ trụ, những nọc và dây chạc của trụ.
37A me na pau o ka pa a puni, a me ko lakou mau kumu, a me ko lakou mau makia, a me ko lakou mau kaula.
38Những người đóng trại trước đền tạm về phía đông, tức trước hội mạc về phía mặt trời mọc, là Môi-se, A-rôn và các con trai người, có chức phận săn sóc nơi thánh thế cho dân Y-sơ-ra-ên. Người ngoại đến gần sẽ bị xử tử.
38Aka, o ka poe hoomoana ma ke alo o ka halelewa, ma ka aoao hikina, imua o ka halelewa anaina ma ka hikina, oia o Mose a me Aarona a me kana mau keiki, i mea e malama ai i ke keenakapu, no ka oihana a na mamo a Iseraela: a o ke kanaka e ke hele mai a kokoke, e make no ia.
39Hết thảy người Lê-vi mà Môi-se và A-rôn vâng mạng Đức Giê-hô-va tu bộ, tùy theo họ hàng của họ, kể mọi nam đinh từ một tháng sắp lên, số là hai mươi hai ngàn người.
39O na Levi a pau i heluia, a Mose laua o Aarona i helu ai mamuli o ke kauoha ana mai a Iehova, ma na ohana o lakou; o na kane a pau mai ka malama hookahi a keu aku, he iwakaluakumamalua tausani.
40Đoạn, Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: Hãy kê sổ hết thảy con trưởng nam của dân Y-sơ-ra-ên, từ một tháng sắp lên, và hãy dựng sổ tên chúng nó.
40Olelo mai la o Iehova ia Mose, E helu oe i na makahiapo kane a pau o na mamo a Iseraela, o ka malama hookahi a keu aku, a e helu hoi i na inoa o lakou.
41Ta là Đức Giê-hô-va. Ngươi phải chọn lấy cho ta người Lê-vi thế cho các con trưởng nam trong dân Y-sơ-ra-ên; cũng phải bắt súc vật của người Lê-vi thế cho mọi con súc vật đầu lòng của dân Y-sơ-ra-ên.
41E lawe oe i na Levi no'u, (owau no Iehova,) i panai no na hiapo a pau iwaena o na mamo a Iseraela; a i na holoholona o ka Levi i panai no na holoholona hiapo o na mamo a Iseraela.
42Vậy, Môi-se kê sổ các con trưởng nam của dân Y-sơ-ra-ên, y như Đức Giê-hô-va đã phán dặn người.
42A helu aku la o Mose i na makahiapo a pau iwaena o na mamo a Iseraela, e like me ka Iehova i kauoha mai ai ia ia.
43Hết thảy những con trưởng nam kể từng tên, từ tuổi một tháng sắp lên, theo sự kê sổ họ, là hai mươi hai ngàn hai trăm bảy mươi ba người.
43O na makahiapo kane a pau, ma ka helu ana i na inoa, o ka poe o lakou i heluia mai ka malama hookahi a keu aku, he iwakaluakumamalua tausani, me na haneri elua a me ke kanahikukumamakolu.
44Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng:
44Olelo mai la o Iehova ia Mose, i mai la,
45Hãy chọn lấy những người Lê-vi thế cho hết thảy con trưởng nam của dân Y-sơ-ra-ên, và súc vật của người Lê-vi thế cho súc vật của dân Y-sơ-ra-ên; vậy, các người Lê-vi sẽ thuộc về ta. Ta là Đức Giê-hô-va.
45E lawe oe i na Levi i panai no na makahiapo a pau iwaena o na mamo a Iseraela, a me na holoholona o na Levi i panai no ko lakou poe holoholona, a no'u no na Levi: owau no Iehova.
46Còn về sự chuộc lại con trưởng nam của dân Y-sơ-ra-ên, kê sổ hơn số người Lê-vi hai trăm bảy mươi ba,
46A no ka poe e panaiia he elua haneri me kanahikukumamakolu o na hiapo o na mamo a Iseraela, ka i oi mamua o na Levi,
47thì ngươi phải thâu mỗi người năm siếc-lơ, tùy theo siếc-lơ nơi thánh; một siếc-lơ là hai chục ghê-ra.
47E auhau aku oe i na sekela elima no ke poo hookahi; ma ka sekela o ke keenakapu kau e auhau aku ai: (he iwakalua gera, hookahi ia sekela:)
48Ngươi phải giao bạc cho A-rôn và các con trai người; ấy là bạc chuộc lại những con trưởng nam trổi hơn.
48A e haawi aku oe i ke kala a ka poe keu o lakou i panaiia'i, ia Aarona a me kana mau keikikane.
49Vậy, Môi-se thâu bạc chuộc lại những con trưởng nam trổi hơn số người Lê-vi đã chuộc lại.
49Lawe ae la o Mose i ke kala panai a ka poe i koe o na mea i panaiia e na Levi.
50Bạc mà người thâu về những con trưởng nam của dân Y-sơ-ra-ên, cộng được một ngàn ba trăm sáu mươi lăm siếc-lơ, theo siếc-lơ của nơi thánh.
50Lawe ae la oia i ke kala a na hiapo o na mamo a Iseraela; hookahi tausani, ekolu haneri me kanaonokumamalima na sekela, ma ka sekela o ke keenakapu.
51Môi-se vâng mạng Đức Giê-hô-va, giao bạc chuộc lại cho A-rôn và các con trai người, y như Đức Giê-hô-va đã phán dặn Môi-se.
51A haawi aku la o Mose i ke kala a ka poe i panaiia, ia Aarona a me kana mau keikikane, e like me ka olelo a Iehova, me ka mea a Iehova i kauoha mai ai ia Mose.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.