Dân
Chapter 17
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Baibala Hemolele (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
1Kế đó, Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng:
1OLELO mai la o Iehova ia Mose, i mai la,
2Hãy nói cùng dân Y-sơ-ra-ên và biểu rằng: Mỗi chi phái của họ phải đem nộp cho ngươi một cây gậy; nghĩa là mười hai cây gậy bởi các quan trưởng của mỗi chi phái.
2E olelo aku oe i na mamo a Iseraela, a e lawe oe i ke kookoo o kela kanaka a i ke kookoo o keia kanaka, no ka ohana o ko lakou poe kupuna, o na luna o lakou a pau, no ka ohana o ko lakou poe kupuna, i na kookoo he umikumamalua; a e kakau oe i ka inoa o kela kanaka keia kanaka maluna o kona kookoo iho.
3Ngươi phải đề tên mỗi người trên cây gậy của mình, và đề tên A-rôn trên cây gậy của Lê-vi; vì phải có một cây gậy cho mỗi trưởng tộc.
3E kakau hoi oe i ka inoa o Aarona maluna o ke kookoo no ka Levi: hookahi kookoo, no ka hma ohana o ko lakou mau kupuna ia.
4Ngươi phải để các gậy đó trong hội mạc, trước hòm bảng chứng, là nơi ta gặp ngươi.
4A e waiho oe ia mau mea ma ka halelewa o ke anaina, imua o ke kanawai, kahi a'u e halawai ai me olua.
5Hễ người nào ta chọn lấy, thì cây gậy người đó sẽ trổ hoa; vậy ta sẽ làm cho nín đi trước mặt ta những lời lằm bằm của dân Y-sơ-ra-ên đã phát ra đối nghịch cùng các ngươi.
5A o ke kookoo o ke kanaka e wae iho ai, e pua no ia; a e hoopaa no wau mai o'u aku nei i na ohnmu ana a ka poe mamo a Iseraela e ohumn aku nei ia olua.
6Môi-se nói cùng dân Y-sơ-ra-ên, thì hết thảy trưởng tộc, tùy theo chi phái mình, đem nộp cho người một cây gậy, tức là mười hai cây. Gậy của A-rôn ở giữa các cây gậy khác.
6Olelo aku la o Mose i na mamo a Iseraela, a haawi mai la kela luna keia luna i kekahi kookoo ia ia, hookahi luna hookahi kookoo no na ohana o ko lakou poe kupuna, he umikumamalua mau kookoo: a iwaena o ko lakou mau kookoo, ke kookoo o Aarona.
7Môi-se để những gậy đó trong Trại bảng chứng trước mặt Đức Giê-hô-va.
7A waiho aku la o Mose i na kookoo imua o Iehova, maloko o ka halelewa o ke kanawai.
8Ngày mai, khi Môi-se vào Trại bảng chứng, xảy thấy cây gậy A-rôn về nhà Lê-vi đã trổ hoa: nó có nứt mụt, sanh hoa và trái hạnh nhân chín.
8A ia la ae, komo aku la o Mose iloko o ka halelewa o ke kanawai; aia hoi, ua opuu mai ke kookoo o Aarona no ka ohana a Levi, a ua mohala ae na opuu, ua poa i na pua, a na hua mai i na hua alemona.
9Môi-se bèn rút các cây gậy khỏi trước mặt Đức Giê-hô-va, đem đưa cho cả dân Y-sơ-ra-ên; các người đều thấy và mỗi người lấy gậy mình lại.
9Lawe mai la o Mose i na kookoo a pau iwaho, mai ke alo o Iehova mai, a imua o na mamo a pau a Iseraela: nana ae la lakou, a lawe aku la kela kanaka keia kanaka i kona kookoo iho.
10Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: Hãy đem cây gậy của A-rôn để lại trước hòm bảng chứng, đặng giữ làm một dấu cho con cái phản nghịch; ngươi phải làm cho nín đi những lời lằm bằm đối nghịch cùng ta, hầu cho dân chúng chẳng chết.
10I mai la o Iehova ia Mose, E lawe hou mai i ke kookoo o Aarona imua o ke kanawai, e malamaia'i i hoailona no ka poe kipi; a e lawe lilo loa aku oe i ko lakou ohumu ana mai o'u aku nei, i make ole ai lakou.
11Môi-se làm như vậy, tức làm y như Đức Giê-hô-va đã phán dặn mình.
11A hana aku la o Mose; e like me ka Iehova i kauoha mai ai ia ia, peia ia i hana'i.
12Dân Y-sơ-ra-ên nói cùng Môi-se rằng: Nầy, chúng tôi bị diệt, chúng tôi bị chết, chúng tôi chết mất hết thảy!
12Olelo mai la na mamo a Iseraela ia Mose, i mai la, Aia hoi, ua make makou, ua pau makou, ua pau makou a pau.
13Phàm ai đến gần đền tạm của Đức Giê-hô-va đều chết. Có lẽ chúng tôi phải chết hết sao?
13O ka mea hele a kokoke aku i ka halelewa o Iehova, e make ia: e pau loa no anei makou i ka make?

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.