Giôs 9
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Cornilescu Bible (1924), Cyrillic script
1Khi hay được việc này, hết thảy các vua ở bên này sông Giô-đanh, hoặc ở trong núi, dưới đồng bằng, hay là dọc bãi biển lớn đối ngang Li-ban, tức là các vua dân Hê-tít, dân A-mô-rít, dân Ca-na-an, dân Phê-rê-sít, dân Hê-vít, và dân Giê-bu-sít,
1Ла аузул ачестор лукрурь, тоць ымпэраций каре ерау динкоаче де Йордан, ын мунте ши ын вале ши пе тоатэ коаста Мэрий челей Марь, пынэ лынгэ Либан, хетиций, амориций, канааниций, ферезиций, хевиций ши иебусиций
2đều rập một ý hiệp với nhau đặng giao chiến với Giô-suê và Y-sơ-ra-ên.
2с-ау унит ымпреунэ ынтр-о ынцелеӂере ка сэ лупте ымпотрива луй Иосуа ши ымпотрива луй Исраел.
3Khi dân Ga-ba-ôn đã hay điều Giô-suê làm cho Giê-ri-cô và A-hi,
3Локуиторий дин Габаон, де партя лор, кынд ау аузит че фэкусе Иосуа Иерихонулуй ши четэций Ай,
4bèn tính dùng mưu kế. Chúng nó giả bộ đi sứ, lấy bao cũ chất cho lừa mình, và bầu chứa rượu cũ rách vá lại,
4ау ынтребуинцат ун виклешуг ши ау порнит ла друм ку меринде пентру кэлэторие. Ау луат ниште сачь векь пе мэгарий лор ши ниште бурдуфурь векь пентру вин, рупте ши кырпите,
5dưới chân mang giày cũ vá, và trên mình quần áo cũ mòn; hết thảy bánh về lương bị họ đều khô và miếng vụn.
5яр ын пичоаре пуртау ынкэлцэминте веке ши кырпитэ ши ерау ымбрэкаць ку ниште хайне векь пе ей, яр тоатэ пыня пе каре о авяу пентру хранэ ера ускатэ ши мучегэитэ.
6Chúng nó đi đến gần Giô-suê tại trại quân Ghinh-ganh, mà nói cùng người và dân Y-sơ-ra-ên rằng: Chúng tôi ở xứ xa đến; vậy bây giờ, hãy lập giao ước cùng chúng tôi.
6С-ау дус ла Иосуа, ын табэрэ ла Гилгал, ши ле-ау зис луй ши тутурор челор дин Исраел: „Ной веним динтр-о царэ депэртатэ, акум деч фачець легэмынт ку ной.”
7Dân Y-sơ-ra-ên đáp cùng dân Hê-vít rằng: Có lẽ các ngươi ở giữa chúng ta chăng; vậy làm thế nào lập giao ước đặng?
7Бэрбаций луй Исраел ау рэспунс хевицилор ачестора: „Поате кэ вой локуиць ын мижлокул ностру, кум сэ фачем ной легэмынт ку вой?”
8Nhưng chúng nó nói cùng Giô-suê rằng: Chúng tôi là tôi tớ của ông. Giô-suê hỏi: Các ngươi là ai, ở đâu đến?
8Ей ау зис луй Иосуа: „Ной сунтем робий тэй.” Ши Иосуа ле-а зис: „Чине сунтець вой ши де унде вениць?”
9Đáp rằng: Tôi tớ của ông ở từ xứ rất xa đến để tôn trọng danh Giê-hô-va là Đức Chúa Trời của ông; vì chúng tôi có nghe nói về Ngài, và mọi điều Ngài đã làm trong xứ Ê-díp-tô;
9Ей й-ау рэспунс: „Робий тэй вин динтр-о царэ фоарте депэртатэ, пентру файма Домнулуй Думнезеулуй тэу, кэч ам аузит ворбинду-се де Ел, де тот че а фэкут ын Еӂипт
10lại cũng nghe về mọi điều Ngài đã làm cho hai vua A-mô-rít ở bên kia sông Giô-đanh, là Si-hôn, vua Hết-bôn, và Oùc, vua Ba-san, ở tại Aùch-ta-rốt.
10ши де че а фэкут челор дой ымпэраць ай аморицилор динколо де Йордан, луй Сихон, ымпэратул Хесбонулуй, ши луй Ог, ымпэратул Басанулуй, каре ера ла Аштарот.
11Các trưởng lão và hết thảy dân sự ở xứ chúng tôi có nói cùng chúng tôi rằng: Hãy lấy lương thực dùng dọc đường, đi đến trước mặt dân đó, mà nói rằng: Chúng tôi là tôi tớ các ông; và bây giờ, hãy lập giao ước cùng chúng tôi.
11Ши бэтрыний ноштри ши тоць локуиторий дин цара ноастрэ не-ау зис: ‘Луаць ку вой меринде пентру кэлэторие, дучеци-вэ ынаинтя лор ши спунеци-ле: «Ной сунтем робий воштри; акум деч фачець легэмынт ку ной.»’
12Kìa, bánh của chúng tôi; ngày chúng tôi ra khỏi nhà đặng đi đến cùng các ông, chúng tôi lấy nó đem theo làm lương thực vẫn nóng hổi, mà ngày nay đã khô và bể vụn.
12Ятэ пыня ноастрэ: ера калдэ кынд ам луат-о ка меринде де акасэ, ын зиуа кынд ам плекат сэ веним ла вой, ши акум с-а ускат ши с-а мучегэит.
13Những bầu rượu này chúng tôi đổ đầy rượu hãy còn mới tinh, kìa nay đã rách; còn quần áo và giày chúng tôi đã cũ mòn, bởi vì đi đường xa.
13Бурдуфуриле ачестя де вин, кынд ле-ам умплут, ерау ной де тот ши ятэ-ле, с-ау рупт; хайнеле ши ынкэлцэминтя ноастрэ с-ау ынвекит де лунӂимя пря маре а друмулуй.”
14Người Y-sơ-ra-ên bèn nhận lương thực chúng nó, không cầu hỏi Đức Giê-hô-va.
14Бэрбаций луй Исраел ау луат дин меринделе лор ши н-ау ынтребат пе Домнул.
15Giô-suê lập hòa cùng chúng nó, và kết ước cho chúng nó sống; rồi các trưởng lão của hội chúng bèn thề cùng chúng nó.
15Иосуа а фэкут паче ку ей ши а ынкеят ун легэмынт прин каре требуя сэ-й ласе ку вяцэ, ши кэпетенииле адунэрий ле-ау журат лукрул ачеста.
16Nhưng ba ngày sau khi đã lập giao ước cùng chúng nó, dân Y-sơ-ra-ên hay rằng các người này vốn lân cận mình, và ở tại giữa mình.
16Ла трей зиле дупэ ынкееря ачестуй легэмынт, копиий луй Исраел ау афлат кэ ерау вечинь ку ей ши кэ локуяу ын мижлокул лор.
17Dân Y-sơ-ra-ên lên đường, và ngày thứ ba đến thành chúng nó. Vả, các thành của chúng nó là Ga-ba-ôn, Kê-phi-ra, Bê-ê-rốt, và Ki-ri-át-Giê-a-rim.
17Кэч копиий луй Исраел ау плекат ши а трея зи ау ажунс ла четэциле лор; четэциле лор ерау Габаон, Кефира, Беерот ши Кириат-Иеарим.
18Dân Y-sơ-ra-ên không giao chiến cùng dân đó, vì cớ các trưởng lão của hội chúng đã chỉ danh Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên mà thề cùng dân đó; nhưng cả hội chúng lằm bằm cùng các quan trưởng.
18Дар ну й-ау бэтут, пентру кэ фрунташий адунэрий ле журасерэ пе Домнул Думнезеул луй Исраел кэ-й вор лэса ку вяцэ. Ши тоатэ адунаря а кыртит ымпотрива кэпетениилор.
19Các quan trưởng bèn nói cùng cả hội chúng rằng: Chúng ta đã chỉ danh Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên mà thề cùng dân đó; vậy, từ bây giờ chúng ta không thế hại chúng nó được.
19Тоате кэпетенииле ау зис ынтреӂий адунэрь: „Ле-ам журат пе Домнул Думнезеул луй Исраел, ши акум ну путем сэ не атинӂем де ей.
20Chúng ta phải đãi dân đó như vầy: Phải để cho chúng nó sống, hầu cho chớ vì cớ lời thề đã lập, mà chúng ta khiến cơn thạnh nộ của Đức Giê-hô-va giáng trên chúng ta.
20Ятэ че ле вом фаче: ый вом лэса ку вяцэ, ка сэ н-адучем песте ной мыния Домнулуй дин причина журэмынтулуй пе каре ли л-ам фэкут.”
21Vậy, các quan trưởng tỏ rằng chúng nó được sống, nhưng phải bị dùng để đốn củi xách nước cho cả hội chúng, y như các quan trưởng đã nói cùng chúng nó.
21„Сэ трэяскэ”, ле-ау зис кэпетенииле. Дар ау фост ынтребуинцаць ла тэят лемне ши ла скос апэ пентру тоатэ адунаря, кум ле спусесерэ кэпетенииле.
22Giô-suê bèn gọi dân đó mà nói như vầy: Sao các ngươi đã gạt chúng ta, nói rằng: Chúng tôi ở rất xa các ông, té ra các ngươi ở giữa chúng ta?
22Иосуа й-а кемат ши ле-а ворбит астфел: „Пентру че не-аць ыншелат зикынд: ‘Сунтем фоарте департе де вой’, кынд вой локуиць ын мижлокул ностру?
23Vậy, bây giờ, các ngươi bị rủa sả, không dứt làm tôi mọi, cứ đốn củi và xách nước cho nhà của Đức Chúa Trời ta.
23Акум сунтець блестемаць ши ну вець ынчета сэ фиць ын робие, сэ тэяць лемне ши сэ скоатець апэ пентру Каса Думнезеулуй меу.”
24Chúng nó bèn thưa cùng Giô-suê rằng: Aáy là điều kẻ tôi tớ ông có hay rõ ràng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của ông đã phán dặn Môi-se, tôi tớ Ngài, biểu ban toàn xứ cho các ông, và diệt hết thảy dân ở trước mặt mình: ấy vậy, chúng tôi vì cớ các ông lấy làm rất sợ hãi cho sự sống mình, nên mới làm như vậy.
24Ей ау рэспунс луй Иосуа ши ау зис: „Робий тэй ау аузит де порунчиле дате де Домнул Думнезеул тэу робулуй Сэу Мойсе, ка сэ вэ дя ын мынэ тоатэ цара ши сэ нимичяскэ динаинтя воастрэ пе тоць локуиторий ей; ши вениря воастрэ а бэгат маре фрикэ ын ной ку привире ла вяца ноастрэ: ятэ де че ам лукрат аша.
25Bây giờ chúng tôi ở trong tay ông, hãy đãi chúng tôi tùy ý ông cho là tốt lành và công bình.
25Ши акум, ятэ-не ын мыниле тале; фэ ку ной че вей креде кэ есте бине ши дрепт сэ фачь.”
26Giô-suê bèn làm như người đã nói, và giải cứu chúng nó khỏi bị tay dân Y-sơ-ra-ên giết.
26Иосуа ле-а фэкут аша кум хотэрысе; й-а избэвит дин мына копиилор луй Исраел, каре ну й-ау оморыт,
27Trong ngày đó, người cắt chúng nó làm kẻ đốn củi và xách nước cho hội chúng và cho bàn thờ của Đức Giê-hô-va tại trong nơi Ngài chọn lựa; ấy là điều dân đó hãy còn làm đến ngày nay.
27дар дин зиуа ачея й-а пус сэ тае лемне ши сэ скоатэ апэ пентру адунаре ши пентру алтарул Домнулуй ын локул пе каре л-ар алеӂе Домнул: чея че фак пынэ ын зиуа де азь.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.