Gi 10
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Cornilescu Bible (1924), Cyrillic script
1Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, kẻ nào chẳng bởi cửa mà vào chuồng chiên, nhưng trèo vào từ nơi khác, thì người đó là trộm cướp.
1Адевэрат, адевэрат вэ спун кэ чине ну интрэ пе ушэ ын стаулул оилор, чи саре пе алтэ парте, есте ун хоц ши ун тылхар.
2Nhưng kẻ bởi cửa mà vào, là người chăn chiên.
2Дар чине интрэ пе ушэ есте пэсторул оилор.
3Người canh cửa mở cho, chiên nghe tiếng người chăn; người chăn kêu tên chiên mình mà dẫn ra ngoài.
3Портарул ый дескиде ши оиле ауд гласул луй; ел ышь кямэ оиле пе нуме ши ле скоате дин стаул.
4Khi người đã đem chiên ra hết, thì đi trước, chiên theo sau, vì chiên quen tiếng người.
4Дупэ че шь-а скос тоате оиле, мерӂе ынаинтя лор; ши оиле мерг дупэ ел, пентру кэ ый куноск гласул.
5Nhưng chiên chẳng theo người lạ; trái lại, nó chạy trốn, vì chẳng quen tiếng người lạ.
5Ну мерг делок дупэ ун стрэин, чи фуг де ел, пентру кэ ну куноск гласул стрэинилор.”
6Đức Chúa Jêsus phán lời ví dụ đó, nhưng chúng không hiểu Ngài muốn nói chi.
6Исус ле-а спус ачастэ пилдэ, дар ей н-ау ынцелес деспре че ле ворбя.
7Đức Chúa Jêsus lại phán cùng họ rằng: Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, ta là cửa của chiên.
7Исус ле-а май зис: „Адевэрат, адевэрат вэ спун кэ Еу сунт Уша оилор.
8Hết thảy những kẻ đã đến trước ta đều là quân trộm cướp; nhưng chiên không nghe chúng nó.
8Тоць чей че ау венит ынаинте де Мине сунт хоць ши тылхарь, дар оиле н-ау аскултат де ей.
9Ta là cái cửa: nếu ai bởi ta mà vào, thì sẽ được cứu rỗi; họ sẽ vào ra và gặp đồng cỏ.
9Еусунт Уша. Дакэ интрэ чинева прин Мине, ва фи мынтуит; ва интра ши ва еши ши ва гэси пэшуне.
10Kẻ trộm chỉ đến để cướp giết và hủy diệt; còn ta đã đến, hầu cho chiên được sự sống và được sự sống dư dật.
10Хоцул ну вине декыт сэ фуре, сэ ынжунгие ши сэ прэпэдяскэ. Еу ам венит ка оиле сэ айбэ вяцэ, ши с-о айбэ дин белшуг.
11Ta là người chăn hiền lành; người chăn hiền lành vì chiên mình phó sự sống mình.
11Еусунт Пэсторул чел бун. Пэсторул чел бун ышь дэ вяца пентру ой.
12Kẻ chăn thuê chẳng phải là người chăn, và chiên không phải thuộc về nó, nếu thấy muông sói đến, thì nó bỏ chiên chạy trốn; muông sói cướp lấy chiên và làm cho tản lạc.
12Дар чел плэтит, каре ну есте пэстор ши але кэруй ой ну сунт але луй, кынд веде лупул венинд, ласэоиле ши фуӂе, ши лупул ле рэпеште ши ле ымпрэштие.
13Aáy vì nó là kẻ chăn thuê, chẳng lo lắng chi đến chiên.
13Чел плэтит фуӂе, пентру кэ есте плэтит ши ну-й пасэ де ой.
14Ta là người chăn hiền lành, ta quen chiên ta, và chiên ta quen ta,
14Еу сунт Пэсторул чел бун. Еу Ымь куноск оилеМеле, ши еле Мэ куноск пе Мине,
15cũng như Cha biết ta và ta biết Cha vậy; ta vì chiên ta phó sự sống mình.
15аша кумМэ куноаште пе Мине Татэл ши кум куноск Еу пе Татэл, шиЕу Ымь дау вяца пентру оиле Меле.
16Ta còn có chiên khác chẳng thuộc về chuồng này; ta cũng phải dẫn nó về nữa, chiên đó sẽ nghe tiếng ta, rồi sẽ chỉ có một bầy, và một người chăn mà thôi.
16Май ам ши алтеой, каре ну сунт дин стаулул ачеста; ши пе ачеля требуе сэ ле адук. Еле вор аскулта де гласул Меу, шива фи о турмэ ши ун Пэстор.
17Nầy, tại sao Cha yêu ta: Aáy vì ta phó sự sống mình để được lấy lại.
17Татэл Мэ юбеште, пентру кэЫмь дау вяца ка ярэшь с-о яу.
18Chẳng có ai cất sự sống ta đi, nhưng tự ta phó cho; ta có quyền phó sự sống, và có quyền lấy lại; ta đã lãnh mạng lịnh nầy nơi Cha ta.
18Нимень ну Мь-о я ку сила, чи о дау Еу де ла Мине. Ампутере с-о дау ши ам путере с-о яу ярэшь; ачастаесте порунка пе каре ам примит-о де ла Татэл Меу.”
19Nhân những lời đó, người Giu-đa lại chia phe ra nữa.
19Дин причина ачестор кувинте, ярэшь с-а фэкут дезбинаре ынтре иудей.
20Phần nhiều trong đám họ nói rằng: Người bị quỉ ám, người là điên; sao các ngươi nghe làm chi?
20Мулць динтре ей зичяу: „Аре драк, есте небун. Де че-Л аскултаць?”
21Kẻ khác nói rằng: Aáy đó chẳng phải là lời nói của một kẻ bị quỉ ám. Quỉ há có thể mở mắt kẻ mù được sao?
21Алций зичяу: „Кувинтеле ачестя ну сунт кувинте де ындрэчит. Поате ун драк сэ дескидэ окий орбилор?”
22Tại thành Giê-ru-sa-lem có giữ lễ Khánh Thành đền thờ. Bấy giờ là mùa đông;
22Ын Иерусалим се прэзнуя атунч празникул Ынноирий Темплулуй. Ера ярна.
23Đức Chúa Jêsus đi dạo trong đền thờ, dưới hiên cửa Sa-lô-môn.
23Ши Исус Се плимба прин Темплу, пе суб придворул луй Соломон.
24Người Giu-đa nhóm xung quanh Ngài mà nói rằng: Thầy để chúng tôi nghĩ vơ vẫn mãi cho đến khi nào? Nếu thầy là Đấng Christ, hãy nói rõ cho chúng tôi.
24Иудеий Л-ау ынконжурат ши Й-ау зис: „Пынэ кынд не тот ций суфлетеле ын ынкордаре? Дакэ ешть Христосул, спуне-не-о деслушит.”
25Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Ta đã bảo các ngươi, mà các ngươi không tin; những việc ta nhân danh Cha ta mà làm đều làm chứng cho ta.
25„В-ам спус” , ле-а рэспунс Исус, „ши ну кредець. Лукрэрилепе каре ле фак Еу ын Нумеле Татэлуй Меу, еле мэртурисеск деспре Мине.
26Nhưng các ngươi không tin ta, vì các ngươi chẳng phải là chiên của ta.
26Дарвой ну кредець, пентру кэ, дупэ кум в-ам спус, ну сунтець дин оиле Меле.
27Chiên ta nghe tiếng ta, ta quen nó, và nó theo ta.
27ОилеМеле аскултэ гласул Меу; Еу ле куноск ши еле вин дупэ Мине.
28Ta ban cho nó sự sống đời đời; nó chẳng chết mất bao giờ, và chẳng ai cướp nó khỏi tay ta.
28Еу ле дау вяца вешникэ, ын вяк нувор пери ши нимень ну ле ва смулӂе дин мына Мя.
29Cha ta là Đấng lớn hơn hết đã cho ta chiên đó, và chẳng ai cướp nổi chiên đó khỏi tay Cha.
29ТатэлМеу, кареМи ле-а дат, есте май маре декыт тоць ши нимень ну ле поате смулӂе дин мына Татэлуй Меу.
30Ta với Cha là một.
30Еуши Татэл уна сунтем.”
31Người Giu-đa lại lượm đá đặng ném Ngài
31Атунч, иудеий ярэшь ау луат петре ка сэ-Л учидэ.
32Đức Chúa Jêsus phán rằng: Ta đã làm trước mắt các ngươi lắm việc lành bởi Cha đến; vì việc chi mà các ngươi ném đá ta?
32Исус ле-а зис: „В-ам арэтат мулте лукрэрь буне, каре вин де ла Татэл Меу: пентру каре дин ачесте лукрэрь арункаць ку петре ын Мине?”
33Người Giu-đa trả lời rằng: Aáy chẳng phải vì một việc lành mà chúng ta ném đá ngươi, nhưng vì lỗi lộng ngôn: ngươi là người, mà tự xưng là Đức Chúa Trời.
33Иудеий Й-ау рэспунс: „Ну пентру о лукраре бунэ арункэм ной ку петре ын Тине, чи пентру о хулэ ши пентру кэ Ту, каре ешть ун ом, Те фачь Думнезеу.”
34Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Trong luật pháp của các ngươi há chẳng chép rằng: Ta đã phán: Các ngươi là các thần, hay sao?
34Исус ле-а рэспунс: „Нуесте скрис ын Леӂя воастрэ: ‘Еу ам зис: «Сунтець думнезей»’?
35Nếu luật pháp gọi những kẻ được lời Đức Chúa Trời phán đến là các thần, và nếu Kinh Thánh không thể bỏ được,
35Дакэ Леӂя а нумит «думнезей» пеачея кэрора ле-а ворбит Кувынтул луй Думнезеу, ши Скриптура ну поате фи десфиинцатэ,
36thì ta đây, là Đấng Cha đã biệt ra thánh, và sai xuống thế gian, nói: Ta là Con Đức Chúa Trời, cớ sao các ngươi cáo ta là nói lộng ngôn?
36кум зичець вой кэ хулеск Еу, пе кареТатэл М-а сфинцит ши М-а тримисын луме? Ши ачаста, пентру кэам зис: ‘Сунт Фиуллуй Думнезеу!’
37Ví bằng ta không làm những việc của Cha ta, thì các ngươi chớ tin ta.
37Дакэну фак лукрэриле Татэлуй Меу, сэ ну Мэ кредець.
38Còn nếu ta làm, thì, dầu các ngươi chẳng tin ta, hãy tin những việc ta, để các ngươi hiểu và biết rằng Cha ở trong ta và ta ở trong Cha.
38Дар, дакэ ле фак, кяр дакэ ну Мэ кредецьпе Мине, кредець мэкар лукрэриле ачестя, ка сэ ажунӂець сэ куноаштець ши сэ штиць кэТатэл есте ын Мине ши Еу сунт ын Татэл.”
39Chúng còn kiếm cách để bắt Ngài nữa; nhưng Ngài tránh khỏi tay họ.
39Ла аузул ачестор ворбе, кэутау ярэшь сэ-Л приндэ, дар Ел а скэпат дин мыниле лор.
40Đoạn, Ngài lại sang bên kia sông Giô-đanh, đến nơi Giăng đã làm phép báp têm trước hết, và trú tại đó.
40Исус С-а дус ярэшь динколо де Йордан, ын локул унде ботезасе Иоан ла ынчепут. Ши а рэмас аколо.
41Có nhiều kẻ đến cùng Ngài, mà nói rằng: Giăng chưa làm một phép lạ nào, nhưng mọi điều Giăng đã nói về người nầy là thật.
41Мулць веняу ла Ел ши зичяу: „Иоан н-а фэкут ничун семн, дар тот че а спус Иоан деспре Омул ачеста ера адевэрат.”
42Tại đó có nhiều người tin Ngài.
42Ши мулць ау крезут ын Ел ын локул ачела.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.