Giê 48
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Cornilescu Bible (1924), Cyrillic script
1Về Mô-áp. Đức Giê-hô-va vạn quân, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán như vầy: Khốn cho Nê-bô, vì đã trở nên hoang vu! Ki-ri-a-ta-im mang xấu hổ, và bị bắt lấy; Nít-gáp bị xô đổ và nhuốc nhơ.
1Асупра Моабулуй. Аша ворбеште Домнул оштирилор, Думнезеул луй Исраел: „Вай де Небо, кэч есте пустиит! Кириатаимул есте акоперит де рушине, есте луат; четэцуя есте акоперитэ де рушине ши здробитэ!
2Sự ngợi khen của Mô-áp chẳng còn có nữa; tại Hết-bôn, người ta mưu hại nó mà rằng: Hãy đến, hủy diệt dân nầy, cho nó không được kể vào số các nước nữa! Hỡi Mát-mên, ngươi cũng sẽ trở nên im lặng; gươm sẽ đuổi theo ngươi.
2С-а дус фала Моабулуй, ла Хесбон и се пуне ла кале пеиря: ‘Хайдем сэ-л нимичим дин мижлокул нямурилор!’ Ши ту вей фи нимичит, Мадменуле, сабия ва мерӂе дупэ тине!
3Có tiếng kêu la khởi từ Hô-rô-na-im rằng: Sự hoang vu và hủy hoại lớn thay!
3Се ауд стригэте дин Хоронаим; прэпэд ши нимичире!
4Mô-áp tan nát rồi. Những con trẻ nó kêu la vang tiếng!
4Моабул есте здробит! Кяр ши чей мичь ай луй стригэ.
5Chúng nó sẽ lên giốc Lu-hít, khóc lóc, chẳng thôi; xuống giốc Hô-rô-na-im, nghe tiếng hủy hoại thảm sầu.
5Кэч ынтр-ун плынс некурмат суе суишул Лухитулуй ши се ауд стригэте де дурере ла коборышул Хоронаимулуй дин причина нимичирий!
6Hãy trốn đi, cứu lấy sự sống mình, như cây thạch thảo nơi đồng vắng!
6Фуӂиць, скэпаци-вэ вяца ши фиць ка ун невояш десцэрат ын пустиу!
7Vì ngươi đã trông cậy sự mình làm ra và của báu mình, ngươi cũng sẽ bị bắt lấy. Kê-mốt cùng các thầy tế lễ và các quan trưởng mình sẽ đi làm phu tù.
7Кэч, пентру кэ те-ай ынкрезут ын фаптеле ши ын вистиерииле тале, вей фи луат ши ту, ши Кемошул ва мерӂе ын робие, ку преоций ши кэпетенииле луй.
8Kẻ hủy diệt sẽ vào trong mọi thành, chẳng có thành nào thoát khỏi; nơi trũng sẽ bị hủy hoại, đồng bằng bị phá tan, như Đức Giê-hô-va đã phán.
8Пустииторул ва интра ын фиекаре четате, ши ничо четате ну ва скэпа. Валя ва пери ши кымпия ва фи нимичитэ, кум а спус Домнул.
9Hãy cho Mô-áp những cánh, đặng nó bay đi trốn; các thành nó sẽ nên hoang vu, chẳng còn ai ở.
9Даць арипь Моабулуй сэ плече ын збор! Четэциле луй сунт префэкуте ын пустиу, ну вор май авя локуиторь.
10Đáng rủa thay là kẻ làm việc Đức Giê-hô-va cách dối dá! Đáng rủa thay là kẻ từ chối máu nơi gươm mình.
10Блестемат сэ фие чел че фаче ку небэгаре де сямэ лукраря Домнулуй, блестемат сэ фие чел че ышь опреште сабия де ла мэчел!
11Mô-áp từ lúc còn trẻ vốn yên lặng, như rượu đứng cặn, chưa từ bình nầy rót qua bình khác: nó cũng chẳng đi làm phu tù; nên giữ được vị nguyên của mình, mùi thơm còn chưa đổi.
11Моабул ера нетулбурат дин тинереця луй ши се одихня фэрэ тямэ пе дрождииле луй, ну ера турнат динтр-ун вас ын алтул ши ну ера дус ын робие. Де ачея и с-а пэстрат густул ши ну и с-а скимбат миросул.
12Vậy nên, Đức Giê-hô-va phán: Nầy, ngày đến, bấy giờ ta sẽ sai đến cùng nó những kẻ đổ ra, chúng nó sẽ đổ nó ra, làm trống bình nó đi, và đập các bình ra từng mảnh.
12Де ачея, ятэ, вин зиле”, зиче Домнул, „кынд ый вой тримите оамень каре-л вор приточи; ый вор голи васеле ши вор фаче сэ-й плесняскэ бурдуфуриле.
13Mô-áp sẽ bị xấu hổ bởi Kê-mốt, cũng như nhà Y-sơ-ra-ên đã bị xấu hổ bởi Bê-tên mình trông cậy.
13Моабул ва фи дат де рушине ку Кемош, кум а фост датэ де рушине каса луй Исраел ку Бетел, ын каре ышь пуня ынкредеря.
14Làm sao các ngươi nói được rằng: Chúng ta là anh hùng, là người mạnh mẽ nơi chiến trận?
14Кум путець сэ зичець: ‘Сунтем витежь, осташь гата де луптэ?’
15Mô-áp bị phá hoại, kẻ thù nghịch đi lên tiến vào các thành nó; kẻ giỏi nhất trong bọn trai trẻ nó bị giết, Đức Vua, danh Ngài là Đức Giê-hô-va vạn quân, phán vậy.
15Моабул есте пустиит, четэциле луй се ыналцэ ын фум, флоаря тинеримий луй есте ынжунгиятэ”, зиче Ымпэратул ал кэруй Нуме есте Домнул оштирилор.
16Sự tai hại của Mô-áp gần đến; họa nó tới rất mau.
16„Пеиря Моабулуй есте апроапе сэ винэ, ненорочиря луй вине ын грабэ маре.
17Hỡi các ngươi là kẻ ở chung quanh nó, hãy than khóc nó! Hết thảy các ngươi là kẻ biết danh nó, khá nói rằng: Cái gậy cứng mạnh, cái gậy đẹp đẽ nầy đã gãy đi là dường nào!
17Бочици-л, тоць чей че-л ынконжураць, тоць каре-й куноаштець нумеле! Ши зичець: ‘Кум а фост сфэрымат ачест путерник тояг де кырмуире, ачест тояг мэрец!’
18Hỡi con gái ở trong Đi-bôn! hãy xuống khỏi ngôi vinh hiển mình, ngồi cách khô khát. Vì kẻ hủy diệt Nô-áp lên nghịch cùng ngươi, phá đồn lũy ngươi.
18Кобоарэ-те дин локашул славей, шезь жос пе пэмынтул ускат, локуитоаре, фийка Дибонулуй! Кэч пустииторул Моабулуй се суе ымпотрива та ши-ць нимичеште четэцуиле.
19Hỡi dân cư A-rô-e! Hãy đứng bên đường và ngó. Hãy hỏi đàn ông đi trốn và đàn bà thoát nạn, rằng: Việc đã xảy ra làm sao?
19Стай пе друм ши пындеште, локуитоаря Ароерулуй! Ынтрябэ пе фугар ши пе чел скэпат ши зи: ‘Че с-а ынтымплат?’
20Mô-áp bị xấu hổ, sức mạnh nó đã tan nát. Hãy than thở, cất tiếng kêu lên! Hãy rao trên bờ Aït-nôn rằng Mô-áp bị phá hại.
20Моабул есте акоперит де рушине, кэч есте здробит. Ӂемець ши стригаць! Вестиць ын Арнон кэ Моабул есте пустиит!
21Sự đoán phạt đã đổ xuống trên xứ đồng bằng, trên Hô-lôn, Gia-sa, Mê-phát,
21А венит педяпса ши песте цара кымпией, песте Холон, песте Иахац, песте Мефаат,
22Đi-bôn, Nê-bô, Bết-Đíp-la-tha-im,
22песте Дибон, песте Небо, песте Бет-Диблатаим,
23Ki-ri-a-ta-im, Bết-Ga-mun, Bết-Mê-ôn,
23песте Кириатаим, песте Бет-Гамул, песте Бет-Меон,
24Kê-ri-giốt, Bốt-ra, và trên hết thảy các thành xứ Mô-áp, nơi gần và xa.
24песте Керийот, песте Боцра, песте тоате четэциле дин цара Моабулуй, фие депэртате, фие апропияте.
25Đức Giê-hô-va phán: Sừng của Mô-áp đã chặt rồi, cánh tay nó đã gãy.
25Тэрия Моабулуй есте фрынтэ ши брацул луй, здробит”, зиче Домнул.
26Hãy làm cho nó say sưa, vì nó đã lên mình nghịch cùng Đức Giê-hô-va. Mô-áp sẽ đẵm mình trong sự mửa thổ, cũng làm cớ cho người ta chê cười.
26„Ымбэтаци-л, кэч с-а семецит ымпотрива Домнулуй! Де ачея, прэвэляскэ-се Моабул ын вэрсэтура луй ши сэ ажунгэ де рыс ши ел!
27Ngươi há chẳng từng chê cười Y-sơ-ra-ên sao? Vậy thì nó có bị bắt được trong vòng kẻ trộm chăng, mà hễ khi ngươi nói đến nó thì lắc đầu?
27Н-а фост Исраел де рысул тэу? А фост принс ел оаре принтре хоць, де дай дин кап орь де кыте орь ворбешть де ел?
28Hỡi dân cư Mô-áp, hãy lìa bỏ các thành, đi ở trong vầng đá; khá như chim bò câu làm ổ trên miệng vực sâu.
28Пэрэсиць четэциле ши локуиць ын стынчь, локуиторь ай Моабулуй! Ши фиць ка порумбеий каре ышь фак куйбул пе марӂиня пештерилор!
29Mô-áp kiêu ngạo vô chừng, sự xấc xược, sự cậy mình, sự khoe khoang của lòng kiêu căng nó, chúng ta đều nghe cả.
29Ам аузит де фудулия мындрулуй Моаб, де ынфумураря луй, де труфия луй, де семециря луй ши де инима луй ынгымфатэ.
30Đức Giê-hô-va phán: Ta biết sự giận của nó là hư không, sự khoe khoang của nó là vô ích.
30Куноск”, зиче Домнул, „ынфумураря луй, лэудэрошенииле луй дешарте ши фаптеле луй де нимик.
31Vậy nên ta khóc thương Mô-áp, vì cả dân sự Mô-áp mà kêu la. Người ta than khóc cho dân Kiệt-Hê-re.
31Де ачея ӂем пентру Моаб ши мэ желеск пентру тот Моабул; оамений суспинэ пентру чей дин Кир-Херес.
32Hỡi cây nho Síp-ma, nhánh nhóc ngươi vượt qua biển, kịp tới biển Gia-ê-xe; kẻ hủy diệt đã đến cướp lấy trái mùa hạ và mùa nho ngươi, nên ta vì ngươi khóc lóc hơn là vì Gia-ê-xe khóc lóc.
32Вие дин Сибма, те плынг май мулт декыт Иаезерул; рамуриле тале се ынтиндяу динколо де маре, се ынтиндяу пынэ ла маря Иаезерулуй, дар пустииторул с-а арункат песте стрынӂеря роаделор тале ши песте кулесул виилор тале.
33Sự vui mừng hớn hở đã mất đi trong ruộng màu mỡ và đất Mô-áp; ta đã làm cho rượu cạn khô trong các bàn ép. Người ta chẳng reo vui mà đạp trái nho nữa: sự reo vui của nó chẳng phải là reo vui.
33Ши астфел, с-ау дус букурия ши веселия дин кымпииле ши дин цара родитоаре а Моабулуй. Ам секат винул дин тяскурь”, зиче Домнул; „нимень ну май калкэ тяскул ку стригэте де букурие; сунт стригэте де рэзбой, ну стригэте де букурие.
34Tiếng than khóc từ Hết-bôn nghe thấu Ê-lê-a-lê cho đến Gia-hát, từ Xoa cho đến Hô-rô-na-im và đến Ê-lát-Sê-li-sia. Vì các dòng nước ở Nim-rim cũng đều nên hoang vu.
34Стригэтеле Хесбонулуй рэсунэ пынэ ла Елеале ши гласул лор се ауде пынэ ла Иахац, де ла Цоар пынэ ла Хоронаим, пынэ ла Еглат-Шелишия, кэч ши апеле Нимримулуй сунт префэкуте ын пустиу.
35Đức Giê-hô-va phán: Ta sẽ cất khỏi Mô-áp kẻ dâng tế lễ trên nơi cao, và kẻ đốt hương cho các thần mình.
35Вряу с-о испрэвеск ын Моаб”, зиче Домнул, „ку чел че се суе пе ынэлцимиле де жертфэ ши адуче тэмые думнезеулуй сэу.
36Bởi vậy, lòng ta vì Mô-áp trổi tiếng như ống sáo; lòng ta trổi tiếng vì dân Kiệt-Hê-re như ống sáo; cho nên sự dư dật nó đã thâu góp thì mất hết rồi.
36Де ачея ымь желеште инима ка ун флуер пентру Моаб, ымь желеште инима ка ун флуер пентру оамений дин Кир-Херес, пентру кэ тоате авуцииле пе каре ле-ау стрынс сунт пердуте.
37Đầu đều trọc hết, râu đều cắt hết; mọi tay đều bị dấu cắt, mọi lưng đều mang bao gai.
37Кэч тоате капетеле сунт расе, тоате бэрбиле сунт тэяте; пе тоате мыниле сунт тэетурь де жале ши пе коапсе, сачь.
38Trên các nóc nhà Mô-áp và trong các đường phố nó, rặt là những sự than khóc, vì ta đã đập bể Mô-áp như bình chẳng ai ưa thích, Đức Giê-hô-va phán vậy.
38Пе тоате акоперишуриле Моабулуй ши ын пеце сунт нумай бочете, пентру кэ ам сфэрымат Моабул ка пе ун вас фэрэ прец”, зиче Домнул.
39Kìa, nó đã đổ nát dường nào! Chúng nó than thở dường nào! Mô-áp xây lưng lại cách hổ thẹn dường nào! Mô-áp sẽ trở nên cớ nhạo cười và sợ hãi cho hết thảy người chung quanh.
39„Кыт есте де сфэрымат Моабул! Ӂемець! Кыт де рушинос ынтоарче Моабул спателе! Моабул ажунӂе астфел де рыс ши де поминэ пентру тоць чей че-л ынконжоарэ.”
40Đức Giê-hô-va phán như vầy: Nầy, quân nghịch liệng như chim ưng, sè cánh nghịch cùng Mô-áp.
40Кэч аша ворбеште Домнул: „Ятэ кэ врэжмашул збоарэ ка вултурул ши ышь ынтинде арипиле асупра Моабулуй!
41Kê-ri-giốt bị lấy, các đồn lũy bị choán rồi; ngày đó, lòng những người mạnh mẽ của Mô-áp trở nên như lòng đàn bà đau đẻ.
41Керийотул есте луат, четэцуиле сунт кучерите ши, ын зиуа ачея, инима витежилор Моабулуй есте ка инима уней фемей ын дурериле наштерий.
42Mô-áp sẽ bị diệt, không thành một dân nữa, vì nó đã lên mình nghịch cùng Đức Giê-hô-va.
42Астфел, Моабул ва фи нимичит де тот ши ну ва май фи ун попор, кэч с-а семецит ымпотрива Домнулуй.
43Đức Giê-hô-va phán: Hỡi dân Mô-áp! sự kinh hãi, hầm hố, bẫy dò đang lâm trên ngươi.
43Гроаза, гроапа ши лацул сунт песте тине, локуитор ал Моабулуй”, зиче Домнул.
44Kẻ nào trốn khỏi sự kinh hãi sẽ sa trong hầm hố, kẻ nào lên khỏi hầm hố sẽ mắc phải bẫy dò. Vì ta sẽ khiến năm thăm phạt đến trên Mô-áp, Đức Giê-hô-va phán vậy.
44„Чел че фуӂе де гроазэ каде ын гроапэ ши чел че се ридикэ дин гроапэ се принде ын лац, кэч адук асупра луй, асупра Моабулуй, анул педепсей луй”, зиче Домнул.
45Kẻ trốn tránh kiệt sức rồi thì núp dưới bóng Hết-bôn; vì có lửa phát ra từ Hết-bôn, ngọn lửa từ giữa Si-hôn, thiêu nuốt góc Mô-áp, và sọ của con kẻ hỗn hào.
45„Фугарий се опреск слеиць де путерь ла умбра Хесбонулуй, дар дин Хесбон есе ун фок, о флакэрэ есе дин мижлокул Сихонулуй ши мистуе латуриле Моабулуй ши крештетул капулуй челор че се фэлеск.
46Hỡi Mô-áp, khốn nạn cho ngươi! dân Kê-mốt mất rồi! Các con trai và con gái ngươi đã bị bắt đi làm phu tù.
46Вай де тине, Моабуле! Попорул дин Кемош есте пердут! Кэч фиий тэй сунт луаць приншь де рэзбой ши фийчеле тале, принсе де рэзбой.
47Nhưng, đến những ngày sau rốt, ta sẽ đem các phu tù Mô-áp trở về, Đức Giê-hô-va phán vậy. Lời xét đoán về Mô-áp đến đó mà thôi.
47Дар, ын времуриле де апой, вой адуче ынапой пе принший де рэзбой ай Моабулуй”, зиче Домнул. Ачаста есте жудеката асупра Моабулуй.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.