Giê 17
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Cornilescu Bible (1924), Cyrillic script
1Tội của Giu-đa đã chép bằng bút sắt, bằng dùi kim cương; đã chạm trên bảng trong lòng chúng nó, và trên sừng những bàn thờ các ngươi.
1Пэкатул луй Иуда есте скрис ку ун прибой де фер, ку ун вырф де диамант; есте сэпат пе табла инимий лор ши пе коарнеле алтарелор лор.
2Con cái chúng nó nhớ lại bàn thờ và hình tượng chúng nó đã lập lên gần các cây xanh và trên gò cao.
2Кум се гындеск ла копиий лор, аша се гындеск ла алтареле лор ши ла идолий ши астартееле лор, лынгэ копачий верзь, пе дялуриле ыналте.
3Hỡi hòn núi ta trong đồng, ta sẽ phó của cải, châu báu và các nơi cao ngươi làm của cướp; vì cớ tội lỗi ngươi đã phạm trên khắp bờ cõi mình.
3Еу дау ла прадэ мунтеле Меу ши огоареле луй, авуцииле тале, тоате вистиерииле ши ынэлцимиле тале, дин причина пэкателор тале, пе тот цинутул тэу!
4Ngươi sẽ bỏ mất cơ nghiệp ta đã ban cho, ấy là tự ngươi làm lấy; ta sẽ bắt ngươi phục kẻ thù ngươi trong một xứ mà ngươi chưa từng biết; vì ngươi đã nhen lửa giận ta lên, thì nó cháy hoài hoài.
4Дин вина та вей перде моштениря пе каре ць-о дэдусем; те вой фаче сэ служешть врэжмашулуй тэу ынтр-о царэ пе каре н-о куношть, кэч ай апринс фокул мынией Меле, каре ва арде тотдяуна.”
5Đức Giê-hô-va phán như vầy: Đáng rủa thay là kẻ nhờ cậy loài người, lấy loài xác thịt làm cánh tay, lòng lìa khỏi Đức Giê-hô-va.
5Аша ворбеште Домнул: „Блестемат сэ фие омул каре се ынкреде ын ом, каре се сприжинэ пе ун муритор ши ышь абате инима де ла Домнул!
6Nó sẽ như thạch thảo trong sa mạc, không thấy phước đến, nhưng ở trong nơi đồng vắng khô khan, trên đất mặn không dân ở.
6Кэч есте ка ун ненорочит ын пустиу ши ну веде венинд феричиря; локуеште ын локуриле арсе але пустиулуй, ынтр-ун пэмынт сэрат ши фэрэ локуиторь.
7Đáng chúc phước thay là kẻ nhờ cậy Đức Giê-hô-va, và lấy Đức Giê-hô-va làm sự trông cậy mình.
7Бинекувынтат сэ фие омул каре се ынкреде ын Домнул ши а кэруй нэдежде есте Домнул!
8Nó cũng như cây trồng nơi bờ suối, đâm rễ theo dòng nước chảy; ngộ khi trời nắng, chẳng hề sợ hãi, mà lá cứ xanh tươi. Gặp năm hạn hán cũng chẳng lo gì, mà cứ ra trái không dứt.
8Кэч ел есте ка ун пом сэдит лынгэ апе, каре-шь ынтинде рэдэчиниле спре рыу; ну се теме де кэлдурэ, кынд вине, ши фрунзишул луй рэмыне верде; ын анул сечетей, ну се теме ши ну ынчетязэ сэ адукэ род.
9Lòng người ta là dối trá hơn mọi vật, và rất là xấu xa: ai có thể biết được?
9Инима есте неспус де ыншелэтоаре ши дезнэдэждуит де ря. Чине поате с-о куноаскэ?
10Ta, Đức Giê-hô-va, dò xét trong trí, thử nghiệm trong lòng, báo cho mỗi người tùy đường họ đi, tùy kết quả của việc họ làm.
10Еу, Домнул, черчетез инима ши черк рэрункий, ка сэ рэсплэтеск фиекэруя дупэ пуртаря луй, дупэ родул фаптелор луй.
11Kẻ nào được giàu có chẳng theo sự công bình, cũng như chim đa đa ấp trứng mà mình chẳng đẻ ra; đến nửa đời người, nó phải mất hết, cuối cùng nó ra là ngu dại.
11Ка о потырнике каре клочеште ниште оуэ пе каре ну ле-а оуат еа, аша есте чел че агонисеште богэций пе недрепт; требуе сэ ле пэрэсяскэ ын мижлокул зилелор сале, ши ла урмэ ну есте декыт ун небун.”
12Ngôi vinh hiển được lập lên từ ban đầu, ấy là nơi thánh của dân chúng ta!
12Скаун де домние плин де славэ, ынэлцат де ла ынчепут, лок ал Сфынтулуй ностру Локаш,
13Hỡi Đức Giê-hô-va, là sự trông cậy của Y-sơ-ra-ên, những kẻ nào bỏ Ngài đều sẽ bị xấu hổ! Những kẻ lìa khỏi ta sẽ bị ghi trên đất, vì họ đã bỏ suối nước sống, tức là Đức Giê-hô-va.
13Доамне, нэдеждя луй Исраел! Тоць чей че Те пэрэсеск вор фи акопериць де рушине. „Чей че се абат де ла Мине вор фи скришь пе пэмынт, кэч пэрэсеск пе Домнул, изворул де апэ вие.”
14Hỡi Đức Giê-hô-va! xin Ngài chữa tôi thì tôi sẽ được lành; xin Ngài cứu tôi thì tôi sẽ được rỗi: vì Ngài là Đấng mà tôi ngợi khen.
14Виндекэ-мэ Ту, Доамне, ши вой фи виндекат; мынтуеште-мэ Ту ши вой фи мынтуит, кэч Ту ешть слава мя!
15Nầy là lời người ta bảo tôi: Lời phán của Đức Giê-hô-va ở đâu? Rày hãy ứng nghiệm!
15Ятэ, ей ымь зик: „Унде есте Кувынтул Домнулуй? Сэ се ымплиняскэ дар!”
16Còn tôi, tôi chẳng vội vàng bỏ chức chăn dân mà không theo Ngài. Tôi cũng không tự ý muốn mình trông đến ngày khốn nạn, Ngài vẫn biết vậy. Lời miệng tôi nói ra điều ở trước mặt Ngài.
16Ши еу, ка сэ Те аскулт, н-ам врут сэ ну фиу пэстор, нич н-ам дорит зиуа ненорочирий, штий, ши че а ешит дин бузеле меле есте дескоперит ынаинтя Та.
17Ngài là nơi ẩn náu của tôi trong ngày hoạn nạn, xin chớ làm cớ cho tôi kinh khiếp!
17Де ачея, ну фи о причинэ де гроазэ пентру мине, кэч Ту ешть скэпаря мя ын зиуа ненорочирий!
18Xin Ngài làm cho những kẻ bắt bớ tôi bị xấu hổ, mà chính tôi đừng bị xấu hổ; cho họ kinh hoàng, mà chính tôi đừng kinh hoàng! Xin cho ngày hoạn nạn lâm trên họ, và hủy hoại gấp hai!
18Пригониторий мей сэ фие акопериць де рушине, дар сэ ну фиу рушинат еу; сэ тремуре ей, дар сэ ну тремур еу! Аду песте ей зиуа ненорочирий, ловеште-й ку о ындоитэ урӂие!
19Đức Giê-hô-va phán cùng tôi rằng: Hãy đi, đứng tại cửa của con cái dân sự, tức là cửa các vua Giu-đa thường ra vào, và tại hết thảy các cửa thành Giê-ru-sa-lem.
19Аша мь-а ворбит Домнул: „Ду-те ши стай ла поарта копиилор попорулуй, пе каре интрэ ши ес ымпэраций луй Иуда, ши ла тоате порциле Иерусалимулуй
20Ngươi khá nói rằng: Hỡi các vua nước Giu-đa, cùng cả dân Giu-đa, và hết thảy dân cư Giê-ru-sa-lem, là kẻ do các cửa nầy qua lại, hãy nghe lời của Đức Giê-hô-va.
20ши спуне-ле: ‘Аскултаць Кувынтул Домнулуй, ымпэраць ай луй Иуда, тот Иуда, ши тоць локуиторий Иерусалимулуй каре интраць пе ачесте порць!
21Đức Giê-hô-va phán như vầy: Các ngươi hãy giữ, chớ khiêng gánh trong ngày sa-bát; chớ khiêng gánh vào cửa thành Giê-ru-sa-lem.
21Аша ворбеште Домнул: «Луаць сяма, ын суфлетеле воастре, сэ ну пуртаць ничо поварэ ын зиуа Сабатулуй ши сэ н-о адучець ынэунтру пе порциле Иерусалимулуй.
22Trong ngày sa-bát, đừng khiêng gánh ra khỏi nhà các ngươi, cũng đừng làm việc chi hết; nhưng hãy biệt riêng ngày sa-bát ra thánh, như ta đã phán dặn tổ phụ các ngươi.
22Сэ ну скоатець дин каселе воастре ничо поварэ ын зиуа Сабатулуй ши сэ ну фачець ничо лукраре, чи сфинциць зиуа Сабатулуй, кум ам порунчит пэринцилор воштри.»’”
23Nhưng mà, họ chẳng nghe, chẳng lắng tai; cứng cổ để chẳng nghe ta và chẳng chịu dạy.
23Дар ей н-ау аскултат ши н-ау луат аминте, чи шь-ау ынцепенит гытул, ка сэ н-аскулте ши сэ ну я ынвэцэтурэ.
24Đức Giê-hô-va phán: Nếu các ngươi chăm chỉ nghe ta, nếu các ngươi không khiêng gánh vào cửa thành ấy trong ngày sa-bát, nếu các ngươi biệt riêng ngày sa-bát ra thánh và không làm việc gì trong ngày đó,
24„Дакэ Мэ вець аскулта ын адевэр”, зиче Домнул, „ши ну вець адуче ничо сарчинэ ынэунтру, пе порциле ачестей четэць, ын зиуа Сабатулуй, чи вець сфинци зиуа Сабатулуй ши ну вець фаче ничо лукраре ын зиуа ачаста,
25thì các vua và các quan trưởng ngồi trên ngai Đa-vít sẽ cỡi xe cỡi ngựa, cùng với các quan trưởng người Giu-đa, và dân cư Giê-ru-sa-lem do cửa thành ấy mà vào; và thành ấy sẽ còn đời đời.
25атунч пе порциле ачестей четэць вор интра ымпэраць ши воевозь каре вор шедя пе скаунул де домние ал луй Давид; ей вор вени ын каре ши кэларе пе кай, ей ши воевозий лор, оамений луй Иуда ши локуиторий Иерусалимулуй, ши четатя ачаста ва фи локуитэ ын вечь.
26Người ta sẽ đến từ các thành của Giu-đa và từ các nơi chung quanh Giê-ru-sa-lem, từ xứ Bên-gia-min, từ đất đồng bằng, đất núi, và phương Nam, đặng đem của lễ thiêu và các của lễ, của lễ chay cùng nhũ hương, và đem của lễ thù ân đến nhà Đức Giê-hô-va.
26Вор вени дин четэциле луй Иуда ши дин ымпрежуримиле Иерусалимулуй, дин цара луй Бениамин, дин вале, де пе мунте ши де ла мязэзи, ка сэ адукэ ардерь-де-тот ши жертфе, сэ адукэ дарурь де мынкаре ши тэмые ши сэ адукэ жертфе де мулцумире ын Каса Домнулуй.
27Nhưng nếu các ngươi không nghe ta để biệt riêng ngày sa-bát ra thánh, mà trong ngày sa-bát khiêng gánh và vào cửa thành Giê-ru-sa-lem, thì ta sẽ đặt lửa nơi cửa thành, lửa ấy sẽ thiêu hủy cung điện của Giê-ru-sa-lem, không bao giờ tắt.
27Дар, дакэ ну вець аскулта кынд вэ порунческ сэ сфинциць зиуа Сабатулуй, сэ ну дучець ничо поварэ ши сэ н-о адучець ынэунтру пе порциле Иерусалимулуй, ын зиуа Сабатулуй, атунч вой апринде ун фок ла порциле четэций, каре ва арде каселе челе марь але Иерусалимулуй ши ну се ва стинӂе.”
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.