Gia-cơ 4
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Những điều chiến đấu tranh cạnh trong anh em bởi đâu mà đến? Há chẳng phải từ tình dục anh em vẫn hay tranh chiến trong quan thể mình sao?
1Misa angtukhaih hoi angzoehhaihnawk loe naa hoiah maw nangcae khaeah angzoh? Taksa koehhaih pongah misa kangtuh na takpum thung hoiah na ai maw, to hmuennawk to angzoh o?
2Anh em tham muốn mà chẳng được chi; anh em giết người và ghen ghét mà chẳng được việc gì hết; anh em có sự tranh cạnh và chiến đấu; anh em chẳng được chi, vì không cầu xin.
2Na tawn o ai pongah, na khit o; tawnh han na koeh o pongah, kami na hum o, toe na tawn o thai ai: nang zoeh o moe, misa nang tuk o, na hni o ai pongah na tawn o ai.
3Anh em cầu xin mà không nhận lãnh được, vì cầu xin trái lẽ, để dùng trong tư dục mình.
3Na hnik o, toe na hak o ai, na taksa koehhaih baktiah patoh hanah na hnik o pazae pongah, na hnu o ai.
4Hỡi bọn tà dâm kia, anh em há chẳng biết làm bạn với thế gian tức là thù nghịch với Đức Chúa Trời sao? Cho nên, ai muốn làm bạn với thế gian, thì người ấy trở nên kẻ nghịch thù cùng Đức Chúa Trời vậy.
4Zu sava laep ah zaehaih sah nongpa hoi nongpatanawk! Long hoi ampui sah kami loe Sithaw ih misa ni, tito na panoek o ai maw? Mi kawbaktih doeh long hoi ampui sak koeh kami loe Sithaw ih misa ah ni oh.
5Hay là anh em tưởng Kinh Thánh nói vô ích sao? Đức Thánh Linh mà Đức Chúa Trời khiến ở trong lòng chúng ta, ham mến chúng ta đến nỗi ghen tương,
5Cabu mah, Aicae thungah kaom Muithla loe uthaih palungthin tawnh, tiah thuih ih lok loe azom pui ah maw na poek o?
6nhưng Ngài lại ban cho ta ơn lớn hơn nữa. Vì vậy, Kinh Thánh chép rằng: Đức Chúa Trời chống cự kẻ kiêu ngạo, nhưng ban ơn cho kẻ khiêm nhường.
6Toe Anih mah loe tahmenhaih to pop aep ah paek. To pongah, Amoek kaminawk loe Sithaw mah koeh ai, toe poeknaem kaminawk khaeah loe tahmenhaih to paek, tiah a thuih.
7Vậy hãy phục Đức Chúa Trời; hãy chống trả ma quỉ, thì nó sẽ lánh xa anh em.
7To pongah Sithaw khaeah angpaek oh. Taqawk to pakaa oh, to tiah nahaeloe anih mah na cawn o taak tih.
8Hãy đến gần Đức Chúa Trời, thì Ngài sẽ đến gần anh em. Hỡi kẻ có tội, hãy lau tay mình, có ai hai lòng, hãy làm sạch lòng đi;
8Sithaw khaeah anghnai oh, to tiah nahaeloe anih doeh nangcae khaeah anghnai toeng tih. Nangcae kazae kaminawk, na ban to pasae oh; nangcae poekhaih angphae kaminawk, na poekhaih palungthin to ciim o sak ah.
9hãy cảm biết sự khốn nạn mình, hãy đau thương khóc lóc; hãy đổi cười ra khóc, đổi vui ra buồn.
9Poek amtang oh loe palungset hoiah qah oh: na pahnui o haih to palungsethaih ah angcoeng nasoe loe, nang hoe o haih to palungsethaih ah angcoeng nasoe.
10Hãy hạ mình xuống trước mặt Chúa, thì Ngài sẽ nhắc anh em lên.
10Angraeng mikhnuk ah poek pahnaem oh, to tiah nahaeloe anih mah na tapom o tahang tih.
11Hỡi anh em, chớ nói hành nhau. Ai nói hành anh em mình hoặc xét đoán anh em mình, tức là nói xấu luật pháp, và xét đoán luật pháp. Vả, nếu ngươi xét đoán luật pháp, thì ngươi chẳng phải là kẻ vâng giữ luật pháp, bèn là người xét đoán luật pháp vậy.
11Nawkamyanawk, minawk kasae thui o hmah. Angmah ih nawkamya to kasae thui moe, lokcaek kami loe, kaalok kasae thui kami hoi kaalok lokcaekkung ah oh: toe kaalok to kasae na thuih nahaeloe, kaalok pazui kami ah na om ai, kaalok lokcaekkung ah ni na oh.
12Chỉ có một Đấng lập ra luật pháp và một Đấng xét đoán, tức là Đấng cứu được và diệt được. Nhưng ngươi là ai, mà dám xét đoán kẻ lân cận mình?
12Kaalok paekkung maeto khue ni oh, anih loe pahlong thaih baktih toengah amrosak thaih: minawk lokcaek kami nang loe mi aa?
13Hỡi anh em, là kẻ nói rằng: Hôm nay hoặc ngày mai, ta sẽ đi đến thành kia, ở đó một năm, buôn bán và phát tài, -
13Vaihniah maw, to tih ai boeh loe khawnbangah maw, to vangpui ah caeh o si, to vangpui ah saningto cam o si loe, amekhaih hnuk hanah, hmuenmae qanhaih hoi zawhhaih tok to sah o si, tiah thui kaminawk, tahngai oh:
14song ngày mai sẽ ra thế nào, anh em chẳng biết! Vì sự sống của anh em là chi? Chẳng qua như hơi nước, hiện ra một lát rồi lại tan ngay.
14khawnbang timaw om tih, tito na panoek o ai. Na hing o haih to kawbangah maw na poek o? Atue setta thung amtueng pacoengah anghma ving tamai hoiah ni anghmong.
15Anh em phải nói trái lại: Ví bằng Chúa muốn, và ta còn sống, thì ta sẽ làm việc nọ việc kia.
15Angraeng koehhaih baktiah om nahaeloe, a hing o tih, to naah hae baktih tok maw, to tih ai boeh loe to baktih tok maw sah o si, tiah na thuih o han oh.
16Kìa anh em lấy những lời kiêu ngạo mà khoe mình! Phàm khoe khoang như vậy là xấu.
16Toe vaihi loe poeksanghaih hoiah nam oek o: to baktih amoekhaihnawk boih loe kasae hmuen ah ni oh.
17Cho nên, kẻ biết làm điều lành mà chẳng làm, thì phạm tội.
17To pongah kahoih hmuen sak han panoek, toe sah ai kami loe zaehaih a tawnh.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.