Gia-cơ
Chapter 3

Gia-cơ

Vietnamese Bible (1923 t…
vs Asang Khongca Bibl…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Hỡi anh em, trong vòng anh em chớ có nhiều người tự lập làm thầy, vì biết như vậy, mình sẽ phải chịu xét đoán càng nghiêm hơn.
1Nawkamyanawk, patukkung ah na oh o boih hanah poek o hmah, aicae loe karai kue lokcaekhaih a tong o tih, tito panoek oh.
2Chúng ta thảy đều vấp phạm nhiều cách lắm. Nếu có ai không vấp phạm trong lời nói mình, ấy là người trọn vẹn, hay hãm cầm cả mình.
2Aicae boih paroeai hmuen sakpazaehaih a tawnh o. Lokthuih pazae ai kami loe, kakoep kami ah oh moe, takpum boih angsum thaih kami ah oh.
3Chúng ta tra hàm thiếc vào miệng ngựa, cho nó chịu phục mình, nên mới sai khiến cả và mình nó được.
3Khenah, lok tahngaih thai hanah, aicae mah hrang ih tahmawh to a moem pae o; to naah ni hrang ih takpum boih paqoi thaih.
4Hãy xem những chiếc tàu: dầu cho lớn mấy mặc lòng, và bị gió mạnh đưa đi thây kệ, một bánh lái rất nhỏ cùng đủ cạy bát nó, tùy theo ý người cầm lái.
4Palongpuinawk ho khen oh, len o parai e, takhi kaham mah koeh baktiah hmuh thaih, toe palongpui mongkung mah loe amonghaih cung tetta hoiah ni a caeh koehhaih baktiah paqoi.
5Cũng vậy, cái lưỡi là một quan thể nhỏ, mà khoe được những việc lớn. Thử xem cái rừng lớn chừng nào mà một chút lửa có thể đốt cháy lên!
5To baktih toengah palai doeh takpum thungah kaom hmuen tetta ah ni oh, toe amoek parai. Khenah, tetta hmai mah taw to kangh boih!
6Cái lưỡi cũng như lửa; ấy là nơi đô hội của tội ác ở giữa các quan thể chúng ta, làm ô uế cả mình, đốt cháy cả đời người, chính mình nó đã bị lửa địa ngục đốt cháy.
6Palai loe hmai ah oh moe, long zaehaih ah oh: to baktih toengah palai loe aicae takpum thungah oh moe, takpum to amhnongsak boih, takpum hmai kangsak hanah, hell hmai thungah kraksak.
7Hết thảy loài muông thú, chim chóc, sâu bọ, loài dưới biển đều trị phục được và đã bị loài người trị phục rồi;
7Moi kasannawk, tavaanawk, pahuinawk hoi tuipui thungah kaom moinawk boih mongsak thaih:
8nhưng cái lưỡi, không ai trị phục được nó; ấy là một vật dữ người ta không thể hãm dẹp được: đầy dẫy những chất độc giết chết.
8toe palai loe mi kawbaktih mah doeh pazawk thai ai; thuitaek thai ai ih kasae ah oh moe, duekhaih kasoe ah oh.
9Bởi cái lưỡi chúng ta khen ngợi Chúa, Cha chúng ta, và cũng bởi nó chúng ta rủa sả loài người, là loài tạo theo hình ảnh Đức Chúa Trời.
9Aicae mah ampa Sithaw to palai hoiah pakoeh moe, Sithaw hoi kanghmong ah sak ih kaminawk doeh aicae mah palai hoiah pasoih o.
10Đồng một lỗ miệng mà ra cả sự khen ngợi và rủa sả! Hỡi anh em, không nên như vậy.
10Pakha maeto thung hoiah tahamhoihhaih hoi tangoenghaih to tacawt. Nawkamyanawk, hae tiah oh han om ai.
11Có lẽ nào một cái suối kia, đồng một mạch mà ra cả nước ngọt và nước đắng sao?
11Tuibap maeto thung hoiah tui kaluep hoi tui kakhaa tacawt thai maw?
12Hỡi anh em, cây vả có ra trái ô-li-ve được, cây nho có ra trái vả được chăng? Mạch nước mặn cũng không có thể chảy ra nước ngọt được nữa.
12Nawkamyanawk, thaiduetkung mah Olive thaih athaih thai maw? To tih ai boeh loe misurkung mah thaiduet thaih athaih thai maw? Tuibap maeto thung hoiah tui kaluep hoi tui kakhrum tacawt thai ai.
13Trong anh em có người nào khôn ngoan thông sáng chăng: Hãy lấy cách ăn ở tốt của mình mà bày tỏ việc mình làm bởi khôn ngoan nhu mì mà ra.
13Nangcae thungah palungha kami hoi panoekhaih tawn kami oh maw? Om nahaeloe palunghahaih tuinom hoiah tacawt kahoih a toksakhaih to amtuengsak nasoe.
14Nhưng nếu anh em có sự ghen tương cay đắng và sự tranh cạnh trong lòng mình, thì chớ khoe mình và nói dối nghịch cùng lẽ thật.
14Toe na palung thungah kasae uthaih maw, misa angcoeng koehhaih maw om nahaeloe, amoek o hmah loe, loktang lok aek hanah lok amlai o hmah.
15Sự khôn ngoan đó không phải từ trên mà xuống đâu; trái lại, nó thuộc về đất, về xác thịt và về ma quỉ.
15To baktih palunghahaih loe ranui bang hoiah angzo ai, long hoiah angzo palunghahaih, taksa koehhaih hoiah angzo palunghahaih, taqawk khae hoiah angzo palunghahaih ah ni oh.
16Vì ở đâu có những điều ghen tương tranh cạnh ấy, thì ở đó có sự lộn lạo và đủ mọi thứ ác.
16Uthaih hoi misa angcoenghaih kaom ahmuen ah loe, khosak anghmanghaih hoi congca kasae sakhaih to oh.
17Nhưng sự khôn ngoan từ trên mà xuống thì trước hết là thanh sạch, sau lại hòa thuận, tiết độ, nhu mì, đầy dẫy lòng thương xót và bông trái lành, không có sự hai lòng và giả hình.
17Toe ranui bang hoi angzo palunghahaih loe, hmaloe koekah ciimcai moe, angdaehhaih, poeknaemhaih, kami tlim ah khosakhaih, palungnathaih hoiah koi pacoengah, athaih kahoih to athaih, mikhmai khethaih om ai, angsak cophaih doeh om ai.
18Vả bông trái của điều công bình thì gieo trong sự hòa bình, cho những kẻ nào làm sự hòa bình vậy.
18Angdaehhaih sah kaminawk loe toenghaih thingthai atii to monghaih hoiah haeh o.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.