Gal
Chapter 4
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Asang Khongca Bibl…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Vả, tôi nói rằng người kế tự dầu là chủ của mọi vật, mà đang còn thơ ấu, thì chẳng khác chi kẻ tôi mọi;
1Qawktoepkung loe hmuennawk boih tawnkung ah om cadoeh, nawkta ah oh nathung tamna hoi lahhaih om ai;
2phải ở dưới quyền kẻ bảo hộ và kẻ coi giữ, cho đến k” người cha đã định.
2anih loe ampa mah khaeh ih atue pha ai karoek to patukkung hoi ukkung ban thungah ni oh.
3Chúng ta cũng như vậy, khi còn thơ ấu, phải phục dưới các lề thói của thế gian.
3To baktih toengah, aicae doeh nawkta ah a oh o naah, long atawk tlim ah ni misong ah a oh o.
4Nhưng khi k” hạn đã được trọn, Đức Chúa Trời bèn sai Con Ngài bởi một người nữ sanh ra, sanh ra dưới luật pháp,
4Toe atue phak naah loe, Sithaw mah a Capa to patoeh, nongpata zok thungah pomh moe, kaalok thungah tapen,
5để chuộc những kẻ ở dưới luật pháp, và cho chúng ta được làm con nuôi Ngài.
5to tiah ni kaalok thungah kaom kaminawk to pahlong ueloe, a nih ih caa ah oh thaihaih to a hnu o tih.
6Lại vì anh em là con, nên Đức Chúa Trời đã sai Thánh Linh của Con Ngài vào lòng chúng ta, kêu rằng: A-ba! Cha!
6Nangcae loe caa ah na oh o pongah, Sithaw mah a Capa ih Muithla to nangcae palung thungah patoeh, Anih mah Abba, Pa, tiah kawk.
7Dường ấy, ngươi không phải là tôi mọi nữa, bèn là con; và nếu ngươi là con, thì cũng là kẻ kế tự bởi ơn của Đức Chúa Trời.
7To pongah nangcae loe tamna na ai boeh ni, capa maeto ah ni na oh o boeh; capa maeto ah na oh o boeh loe, Kri rang hoiah Sithaw ih qawktoep kami ah ni na oh o boeh.
8Xưa kia, anh em chẳng biết Đức Chúa Trời chi hết, thì làm tôi các thần vốn không phải là thần.
8Sithaw na panoek o ai naah, taksa ah Sithaw tawn ai kaminawk ih tok to na sak pae o.
9Nhưng hiện nay anh em biết Đức Chúa Trời lại được Đức Chúa Trời biết đến nữa, sao còn trở hướng về lề thói hèn yếu nghèo nàn đó mà suy phục nữa ư?
9Toe tipongah vaihi Sithaw na panoek o moe, Sithaw mah ang panoek o pacoengah, tha kacak ai, amtanghaih hmuen bangah angqoi moe, misong ah oh let han na koeh o loe?
10anh em hãy còn giữ ngày tháng, mùa, năm ư!
10Ani, akhrah, khotue hoi saningnawk to na uum o.
11Tôi lo cho anh em, e tôi đã làm việc luống công giữa anh em.
11Nangcae nuiah azom pui ah tha ka pathok moeng tih, tiah mawnhaih ka tawnh.
12Hỡi anh em, tôi xin anh em hãy giống như tôi; vì tôi cũng như anh em. Anh em không làm hại gì cho tôi.
12Nawkamyanawk, nangcae baktiah ka oh pongah, kai baktiah na oh o toeng hanah tahmenhaih kang hnik o: ka nuiah na sakpazaehaih roe tidoeh om ai.
13Anh em biết rằng ấy là đang lúc xác thịt yếu đuối mà tôi truyền Tin Lành cho anh em lần thứ nhất,
13Nangcae khaeah kahoih tamthanglok ka thuih tangsuek naah, taksa thacak ai hoiah ni kang thuih o, tito na panoek o.
14vì xác thịt tôi yếu đuối sanh ra sự rèn thử cho anh em mặc dầu, anh em cũng chẳng khinh tôi, chẳng chối tôi, mà lại tiếp rước tôi như một vị thiên sứ của Đức Chúa Trời, thật như chính mình Đức Chúa Jêsus Christ.
14Ka taksa ah kaom raihaih pongah kai khet nang patoek o ai moe, nang pakak o ai; Sithaw ih van kami baktih, Kri Jesu baktiah nang talawk o.
15Vậy thì sự vui mừng của anh em đã trở nên thể nào? Vì tôi làm chứng cho anh em rằng, lúc bấy giờ, nếu có thể được thì anh em cũng móc con mắt mà cho tôi.
15To baktih nangcae tahamhoih anghoehaih to naa ah maw oh ving boeh? Angcoeng thai nahaeloe, kai paek hanah nangmacae ih mik mataeng doeh taprok dok han koek to na koeh o, tito ka panoek.
16Tôi lấy lẽ thật bảo anh em, lại trở nên thù nghịch của anh em sao?
16Loktang lok kang thuih o pongah, nangcae ih misa ah maw ka oh boeh?
17Những người đó vì anh em mà sốt sắng, thì không phải là ý tốt; nhưng họ muốn anh em lìa bỏ chúng tôi, hầu cho anh em sốt sắng vì họ.
17Nihcae mah nangcae palung parai baktiah mikhmai na pan o thuih doeh om tih, toe kahoihah na palung o tangtang ai; ue, nihcae mah nangcae palung han koeh ih na ai ah, nangcae mah nihcae palung han ih ni a koeh o.
18Có lòng sốt sắng vì điều thiện thì tốt lắm, lúc nào cũng thế, không những khi tôi có mặt giữa anh em.
18Nangcae hoi nawnto ka oh nathuem khue ai, kahoih hmuen bangah loe amlung poe han oh.
19Hỡi các con, vì các con mà ta lại chịu đau đớn của sự sanh nở, cho đến chừng nào Đấng Christ thành hình trong các con,
19Palung ih ka caanawk, Kri nangcae thungah kacakah om ai karoek to, nawkta zah nathuem ih zok kana baktiah ni kana ka pauep let.
20ta muốn ở cùng các con và thay đổi cách nói; vì về việc các con, ta rất là bối rối khó xử.
20Nangcae nuiah palunghaenghaih ka tawnh pongah, vaihi nangcae khaeah kang zoh moe, lok ka thuihaih dan pakhraih han ka koeh.
21Hãy nói cho tôi, anh em là kẻ ưa phục dưới luật pháp, há không nghe luật pháp sao?
21Kaalok thungah oh koeh kaminawk, na thui oh, kaalok to na thaih o ai maw?
22Vì có chép rằng Aùp-ra-ham có hai con trai: một là con của người nữ tôi mọi, một là con của người nữ tự chủ.
22Abraham mah capa hnetto sak, maeto loe misong nongpata thung hoiah oh moe, kalah maeto loe kaloih nongpata thung hoiah oh, tiah tarik ih oh.
23Nhưng con của người nữ tôi mọi sanh ra theo xác thịt, con của người nữ tự chủ sanh ra theo lời hứa.
23Toe misong nongpata ih capa loe taksa koehhaih baktiah sak ih capa ah oh; kaloih nongpata khae hoi kaom capa loe lokkamhaih baktiah sak ih capa ah oh.
24Cả điều đó có một nghĩa bóng: hai người nữ đó tức là hai lời giao ước, một là lời giao ước tại núi Si-na-i, sanh con ra để làm tôi mọi ấy là nàng A-ga.
24To loknawk loe hnuksakhaih lok ah ni oh: to nongpata hnik loe lokmaihaih hnetto thuih koehhaih ih ni; Sinai mae nui hoiah kangzo lokmaihaih maeto loe Hagar ni, anih mah misong ah kaom capa to tapen.
25Vả, A-ga, ấy là núi Si-na-i, trong xứ A-ra-bi; khác nào như thành Giê-ru-sa-lem bây giờ, thành đó với con cái mình đều làm tôi mọi.
25Hagar loe Arabia prae ah kaom Sinai mae ah oh, vaihi thuem ih Jerusalem hoiah anghmong, anih loe a caa hoi nawnto misong ah oh hoi.
26Nhưng thành Giê-ru-sa-lem ở trên cao là tự do, và ấy là mẹ chúng ta.
26Toe ranui ah kaom Jerusalem loe kaloih nongpata, aicae boih ih amno ah oh.
27Vì có lời chép: Hỡi đàn bà son, ngươi là kẻ chẳng sanh nở chi hết, hãy vui mừng; Ngươi là kẻ chẳng từng chịu đau đớn sanh đẻ, hãy nức lòng mừng rỡ và bựt tiếng reo cười, Vì con cái của vợ bị để sẽ đông hơn con cái của người nữ có chồng.
27Caa kaak, caa sah vai ai nongpata nang, anghoe ah; nawkta tapenhaih kana panoek vai ai nang, tha hoi hang ah: haek ih nongpata loe sava tawn nongpata pong pop kue ah caa sak, tiah tarik ih oh.
28Hỡi anh em, về phần chúng ta, chúng ta cũng như Y-sác, là con của lời hứa.
28Nawkamyanawk, aicae loe Isak baktiah lokkamhaih caa ah ni a oh o.
29Nhưng, như bấy giờ, kẻ sanh ra theo xác thịt bắt bớ kẻ sanh ra theo Thánh Linh, thì hiện nay cũng còn là thể ấy.
29Toe taksa koehhaih ah tapen kami mah Kacai Muithla koehhaih ah tapen capa to pacaekthlaek, vaihi doeh to tiah ni oh.
30Song Kinh Thánh, có nói gì? Hãy đuổi người nữ tôi mọi và con trai nó; vì con trai của người nữ tôi mọi sẽ không được kế tự với con trai của người nữ tự chủ.
30Toe Cabu mah kawbangmaw thuih? Misong nongpata to a capa hoi nawnto haek ving ah: misong nongpata ih capa mah kaloih nongpata ih capa hoi nawnto qawktoepkung ah om mak ai, tiah thuih.
31Aáy vậy, hỡi anh em, chúng ta chẳng phải là con cái của người nữ tôi mọi, bèn là người nữ tự chủ.
31To pongah nawkamyanawk, aicae loe misong nongpata ih caa ah a om o ai, kaloih nongpata ih caa ah ni a oh o.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.