Gal 4
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
1Vả, tôi nói rằng người kế tự dầu là chủ của mọi vật, mà đang còn thơ ấu, thì chẳng khác chi kẻ tôi mọi;
1KE olelo aku nei hoi au, o ka hooilina i kona wa opiopio, aole he ano e kona i ko ke kauwa, aka, nona ka waiwai a pau;
2phải ở dưới quyền kẻ bảo hộ và kẻ coi giữ, cho đến k” người cha đã định.
2Aia no ia malalo o ua kumu a me na kahu, a hiki i ka manawa i hoikeia mai ai e ka makua.
3Chúng ta cũng như vậy, khi còn thơ ấu, phải phục dưới các lề thói của thế gian.
3Pela no kakou i ko kakou wa kamalii, ua hooluhiia e na oihana mua o ke ao nei.
4Nhưng khi k” hạn đã được trọn, Đức Chúa Trời bèn sai Con Ngài bởi một người nữ sanh ra, sanh ra dưới luật pháp,
4Aka, i ka hiki ana mai o ka manawa maopopo, hoouna mai la ke Akua i kana Keiki, a ka wahine i hanau ai, i hanau malalo o ko kanawai.
5để chuộc những kẻ ở dưới luật pháp, và cho chúng ta được làm con nuôi Ngài.
5E hoopakele ae i ka poe malalo o ke kanawai, i hookamaia mai ai kakou he poe keiki.
6Lại vì anh em là con, nên Đức Chúa Trời đã sai Thánh Linh của Con Ngài vào lòng chúng ta, kêu rằng: A-ba! Cha!
6No ka mea, no ko oukou keiki ana, ua hoouna mai la ke Akua i ka Uhane o kana Keiki iloko o ko oukou mau naau, e kahea ana, E Aba, ka Makua.
7Dường ấy, ngươi không phải là tôi mọi nữa, bèn là con; và nếu ngươi là con, thì cũng là kẻ kế tự bởi ơn của Đức Chúa Trời.
7No ia mea, aole he kauwa luhi oe ma ia hope aku, aka, he keiki no; ina he keiki, he hooilina no hoi na ke Akua ma o Kristo la.
8Xưa kia, anh em chẳng biết Đức Chúa Trời chi hết, thì làm tôi các thần vốn không phải là thần.
8Aka, i ka manawa i ike ole ai oukou i ke Akua, hookauwa aku la oukou na na akua oiaio ole.
9Nhưng hiện nay anh em biết Đức Chúa Trời lại được Đức Chúa Trời biết đến nữa, sao còn trở hướng về lề thói hèn yếu nghèo nàn đó mà suy phục nữa ư?
9Ano hoi, ua ike oukou i ke Akua, he oiaio ua ikeia mai e ke Akua, pehea la hoi oukou i huli hou aku ai i na oihana mua palupalu ilihune, i na mea a oukou i makemake hou ai e hookauwa aku na lakou?
10anh em hãy còn giữ ngày tháng, mùa, năm ư!
10Ke malama nei oukou i ua la, a me na mahina, i na manawa a me na makahiki.
11Tôi lo cho anh em, e tôi đã làm việc luống công giữa anh em.
11Ua hopohopo wau ia oukou, o make hewa paha kuu hooluhi ana no oukou.
12Hỡi anh em, tôi xin anh em hãy giống như tôi; vì tôi cũng như anh em. Anh em không làm hại gì cho tôi.
12E na hoahanau, ke nonoi aku nei au ia oukou, i like oukou me au, no ka mea, ua like hoi au mo oukou: aole no oukou i hana ino iki mai ia'u.
13Anh em biết rằng ấy là đang lúc xác thịt yếu đuối mà tôi truyền Tin Lành cho anh em lần thứ nhất,
13Ua ike no oukou me ka palupalu o ke kino i hai aku ai au i ka euanelio ia oukou i kinohou.
14vì xác thịt tôi yếu đuối sanh ra sự rèn thử cho anh em mặc dầu, anh em cũng chẳng khinh tôi, chẳng chối tôi, mà lại tiếp rước tôi như một vị thiên sứ của Đức Chúa Trời, thật như chính mình Đức Chúa Jêsus Christ.
14Aole no oukou i hoowahawaha mai i ka ino o kuu kino, aole hoi oukou i hoopailua mai; aka, na hookipa mai no oukou ia'u me he anela la no ke Akua, me Kristo Iesu hoi.
15Vậy thì sự vui mừng của anh em đã trở nên thể nào? Vì tôi làm chứng cho anh em rằng, lúc bấy giờ, nếu có thể được thì anh em cũng móc con mắt mà cho tôi.
15Heaha la hoi ko oukou pomaikai ana? No ka mea, ke hoike maka aku nei au no oukou, ina he mea hiki ia, ina ua poalo ae oukou i ko oukou mau maka a haawi mai ia'u.
16Tôi lấy lẽ thật bảo anh em, lại trở nên thù nghịch của anh em sao?
16Ua lilo anei au i enemi no oukou, i kuu hai ana'ku i ka oiaio ia oukou?
17Những người đó vì anh em mà sốt sắng, thì không phải là ý tốt; nhưng họ muốn anh em lìa bỏ chúng tôi, hầu cho anh em sốt sắng vì họ.
17Ua hu mai ko lakou aloha ia oukou, aole nae ma ka pono: ke ake nei lakou e hookaawalo ia oukou, i hu mai ko oukou aloha ia lakou.
18Có lòng sốt sắng vì điều thiện thì tốt lắm, lúc nào cũng thế, không những khi tôi có mặt giữa anh em.
18Aka, he mea pono no ke hu ae a mau mai ke aloha i ka mea maikai, aole i ka wa wale no e noho ai au me oukou.
19Hỡi các con, vì các con mà ta lại chịu đau đớn của sự sanh nở, cho đến chừng nào Đấng Christ thành hình trong các con,
19E kuu mau keiki liilii, ka poe a'u e haakohi nei e hoohanau hou aku, a loaa mai o Kristo iloko o oukou,
20ta muốn ở cùng các con và thay đổi cách nói; vì về việc các con, ta rất là bối rối khó xử.
20Ke ake nei au e ike ia oukou i neia manawa, a e hoololi ae i kuu leo; no ka mea, ke haohao nui nei au ia oukou.
21Hãy nói cho tôi, anh em là kẻ ưa phục dưới luật pháp, há không nghe luật pháp sao?
21E hai mai oukou ia'u, e ka poe i makemake e noho malalo o ke kanawai, aole anei oukou i lohe i ke kanawai?
22Vì có chép rằng Aùp-ra-ham có hai con trai: một là con của người nữ tôi mọi, một là con của người nữ tự chủ.
22No ka mea, ua palapalaia, Elua a Aberahama keikikane; hookahi na ke kauwawahine, hookahi hoi na ka hakuwahine.
23Nhưng con của người nữ tôi mọi sanh ra theo xác thịt, con của người nữ tự chủ sanh ra theo lời hứa.
23O ka mea na ke kauwawahine, ua hanau ia ma ko ke kino; aka, o ka mea na ka hakuwahine, ma ka olelo hoopomaikai mai oia.
24Cả điều đó có một nghĩa bóng: hai người nữ đó tức là hai lời giao ước, một là lời giao ước tại núi Si-na-i, sanh con ra để làm tôi mọi ấy là nàng A-ga.
24O keia mau mea, he hoailona ia; o laua no na kauoha elua; o kekahi nae no ke kuahiwi no Sinai mai, e hanau ana i ua keiki kauwa, oia o Hagara.
25Vả, A-ga, ấy là núi Si-na-i, trong xứ A-ra-bi; khác nào như thành Giê-ru-sa-lem bây giờ, thành đó với con cái mình đều làm tôi mọi.
25No ka mea, o ua Hagara la oia ke kuahiwi o Sinai i Arabia; ua like hoi ia me Ierusalema i neia manawa, a e hooluhi ana oia me kana poe keiki.
26Nhưng thành Giê-ru-sa-lem ở trên cao là tự do, và ấy là mẹ chúng ta.
26Aka, o ka Ierusalema maluna ka hakuwahine, oia ka makuwahine o kakou a pau.
27Vì có lời chép: Hỡi đàn bà son, ngươi là kẻ chẳng sanh nở chi hết, hãy vui mừng; Ngươi là kẻ chẳng từng chịu đau đớn sanh đẻ, hãy nức lòng mừng rỡ và bựt tiếng reo cười, Vì con cái của vợ bị để sẽ đông hơn con cái của người nữ có chồng.
27No ka mea, ua palapalaia, E olioli oe, e ka mea pa, i hanau ole i keiki; e poha aku me ka hea nui, e ka mea i hanau keiki ole; no ka mea, he nui na keiki a ka mea i haaleleia, he hapa ka ka mea kane.
28Hỡi anh em, về phần chúng ta, chúng ta cũng như Y-sác, là con của lời hứa.
28E na hoahanau, he poe keiki no hoi kakou ma ka olelo hoopomaikai mai e like me Isaaka.
29Nhưng, như bấy giờ, kẻ sanh ra theo xác thịt bắt bớ kẻ sanh ra theo Thánh Linh, thì hiện nay cũng còn là thể ấy.
29E like mamua, hoomaau aku la ka mea i hanau ma ke kino i ka mea i hanau ma ka Uhane, pela no hoi i neia manawa.
30Song Kinh Thánh, có nói gì? Hãy đuổi người nữ tôi mọi và con trai nó; vì con trai của người nữ tôi mọi sẽ không được kế tự với con trai của người nữ tự chủ.
30Aka, heaha ka ka palapala hemolele i i mai ai? E hookuke aku oe i ua kauwawahine la a me kana keiki; no ka mea, aole e hooili pu ia'ku ka waiwai i ke keiki a ke kauwawahine me ke keiki a ka hakuwahine.
31Aáy vậy, hỡi anh em, chúng ta chẳng phải là con cái của người nữ tôi mọi, bèn là người nữ tự chủ.
31Nolaila, e na hoahanau, aole he poe keiki kakou na ke kauwawahine, na ka hakuwahine no.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.