Ê-xê
Chapter 18
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Asang Khongca Bibl…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Lại có lời Đức Giê-hô-va phán cùng ta như vầy:
1Angraeng ih lok kai khaeah angzoh,
2Các ngươi dùng câu tục ngữ nầy về đất Y-sơ-ra-ên, rằng: Cha ăn trái nho chua, mà con ghê răng, câu đó có nghĩa gì?
2ampanawk mah kathaw misurtui to naek o moe, a caanawk haa kin o, tiah Israel prae thungah na patoh ih palungha lok mah thuikoehhaih loe tih maw?
3Chúa Giê-hô-va phán: Thật như ta hằng sống, các ngươi sẽ không cần dùng câu tục ngữ ấy trong Y-sơ-ra-ên nữa.
3Angraeng Sithaw mah, Kai ka hing baktiah, Israel prae thungah to palungha lok patohhaih om mak ai boeh.
4Nầy, mọi linh hồn đều thuộc về ta; linh hồn của cha cũng như linh hồn của con, đều thuộc về ta; linh hồn nào phạm tội thì sẽ chết.
4Khenah, kahing pakhra boih loe kai ih ni; ampa ih pakhra loe Kai ih pakhra ah oh baktih toengah, a capa ih pakhra doeh Kai ih ni; kazae pakhra loe duek han oh, tiah thuih.
5Nếu người nào là công bình, làm theo luật pháp và hiệp với lẽ thật,
5Toe katoeng poekhaih, kahoih hmuen hoi patuk ih lok baktiah toksah kami loe,
6không ăn trên núi, không ngước mắt trông các thần tượng của nhà Y-sơ-ra-ên, không làm nhục vợ kẻ lân cận mình, không lại gần đàn bà đang có kinh nguyệt;
6maenawk nuiah buhcaa mak ai, Israel imthung takoh ih krangnawk doeh khen mak ai, a imtaeng kami ih zu doeh zae haih mak ai, athii kahnu nongpata khaeah doeh caeh mak ai.
7người mà không làm hại ai, trả của cầm lại cho kẻ mắc nợ, không cướp vật gì của ai, ban bánh cho kẻ đói, mặc áo cho kẻ trần truồng,
7Mi kawbaktih doeh pacaekthlaek mak ai, laiba tawnkung mah lokmaihaih to sak moe, akrang let hanah a pawng ih hmuen to paek let, minawk ih hmuen to lomh ai, zok amthlam kaminawk to caaknaek a paek moe, bangkrai ah kaom kaminawk to khukbuen a paek;
8không cho vay mà ăn lời, không lấy thêm, rút tay lại khỏi sự gian ác, theo lẽ thật mà xét đoán trong người nầy với người khác;
8a caa kapung lak han ih minawk han hmuenmae to coisak ai, kapung a caa doeh la ai, kahoih ai hmuen to sah ai, kami boih nuiah toenghaih hoiah lok takroek, tiah thuih:
9noi theo luật lệ ta và vâng giữ mạng lịnh ta, ăn ở cách thật thà, thì người ấy là người công bình; chắc thật người sẽ sống, Chúa Giê-hô-va phán vậy.
9ka patuk ih loknawk to pazui moe, ka lokcaekhaih to pakuem, anih loe katoengah toksak moe, katoeng kami ah oh pongah, anih loe hing tangtang tih, tiah Angraeng mah thuih.
10Nếu người đã sanh con là trộm cướp, làm đổ máu, làm điều nào trong những điều ác đã nói trên kia,
10Toe anih ih capa loe minawk ih hmuenmae lomh thaih kami, kami hum kami, kahoih ai hmuennawk sah kami,
11chẳng làm điều nào trong những điều thiện đã nói trên kia, nhưng đã ăn trên núi, làm nhục vợ kẻ lân cận mình,
11a sak han koi tok maeto doeh sah ai, maenawk nuiah buhcaa kami, a imtaeng kami ih zu parueng pae kami;
12làm hại kẻ nghèo nàn thiếu thốn, cướp vật gì của ai, và không trả của cầm, ngước mắt trông các thần tượng và phạm sự gớm ghiếc,
12kamtang hoi kavawt kaminawk to pacaekthlaek moe, minawk ih hmuenmae lomh kami, paek let han lokmaih moe, pawng ih hmuennawk paek let ai kami, krangnawk to a bok moe, panuet thok hmuennawk sah kami;
13cho vay ăn lời và lấy thêm, thì đứa con đó sẽ sống không? Không nó sẽ không sống! Vì nó đã phạm mọi sự gớm ghiếc ấy, chắc thật nó sẽ chết, và máu nó sẽ ở trên nó.
13a caa kapung to caak hanah minawk khaeah hmuen coisak moe, a caa kapung la kami loe hing tih maw? Hing mak ai! Panuet thok hae baktih hmuennawk to a sak pongah, anih loe dueh tangtang tih; anih ih athii loe angmah nuiah krah tih.
14Nhưng, nếu người ấy sanh con trai, con thấy mọi sự tội cha mình đã phạm, thì lo sợ, không làm điều chi giống như vậy hết;
14Toe to kami ih capa loe ampa mah sak ih zaehaihnawk to a hnuk boih, kho a poek moe, to baktih zaehaihnawk to sah ai,
15nếu con ấy không ăn trên núi, nếu nó không ngước mắt trông thần tượng của nhà Y-sơ-ra-ên, nếu nó không làm nhục vợ kẻ lân cận mình,
15maenawk nuiah buh to caa ai, Israel imthung takoh mah bok ih krangnawk doeh bok ai, a imtaeng kami ih zu doeh parueng ai;
16nếu nó không làm hại ai, nếu nó không lấy của cầm và không cướp vật gì của ai, nhưng nó ban bánh cho kẻ đói, và mặc áo cho kẻ trần truồng;
16mi kawbaktih kami doeh pacaekthlaek ai, paek let han loksuek ih baktiah pawng ih hmuenmaenawk to la ai, mi ih hmuenmae doeh lomh ai, zok amthlam kami han caaknaek paek kami, bangkrai ah kaom kaminawk han doeh khukbuen paek kami;
17rút tay lại khỏi hại kẻ nghèo, không đòi lời lãi và lấy thêm, vâng giữ mạng lịnh ta và noi theo luật lệ ta, thì đứa con ấy sẽ không chết vì sự gian ác cha nó, mà chắc nó sẽ sống.
17amtang kaminawk han hmuenmae paek kami, acaa kapung phoisa to la ai, ka lokcaekhaih to pakuem moe, ka paek ih lok pazui kami loe ampa zaehaih pongah dueh mak ai, hing tangtang tih.
18Còn như cha nó đã dùng sự hung bạo ức hiếp, và phạm sự trộm cướp đối với anh em mình, đã làm điều không lành giữa dân sự mình, nầy, chính nó sẽ chết trong sự gian ác mình.
18Toe anih ih ampa loe angmah ih amnawk to pacaekthlaek moe, angmah ih kaminawk nuiah kahoih ai hmuen to sak pongah, khenah, anih loe a zaehaih baktiah dueh tih.
19Các ngươi còn nói rằng: Làm sao đứa con không mang sự gian ác của cha nó? Aáy là đứa con đã làm theo luật pháp và hiệp với lẽ thật; ấy là nó đã giữ hết thảy luật lệ ta và làm theo; chắc thật nó sẽ sống.
19Toe nangcae mah loe, Tikhoe ampa mah sak ih zaehaih to a capa mah zok ai loe? tiah na thui o tih. A capa loe katoeng hmuen hoi patuk ih lok baktiah tok a sak, ka paek ih loknawk to pazui moe, a sak pongah, anih loe hing tangtang tih.
20Linh hồn nào phạm tội thì sẽ chết. Con sẽ không mang sự gian ác của cha và cha không mang sự gian ác của con. Sự công bình của người công bình sẽ được kể cho mình, sự dữ của kẻ dữ sẽ chất trên mình.
20Kazae pakhra loe dueh tih. Ampa mah sak ih zaehaih to a capa mah zok mak ai, a capa mah sak ih zaehaih doeh ampa mah zok mak ai; katoeng kami toenghaih loe a nuiah om ueloe, kasae kami sehaih doeh angmah nuiah ni om tih.
21Song nếu kẻ dữ xây bỏ hết thảy tội mình đã phạm, nếu nó giữ mọi luật lệ ta, và nếu nó làm theo luật pháp và hiệp với lẽ thật, chắc thật nó sẽ sống và không chết đâu.
21Toe kami zae loe a sak ih zaehaihnawk boih hoiah amlaem, ka paek ih loknawk boih to pakuem moe, katoeng hmuen hoi patuk ih lok baktiah tok to sah nahaeloe, anih loe hing tangtang tih, dueh mak ai.
22Không có một tội nào nó đã phạm sẽ bị nhớ lại nghịch cùng nó; nó sẽ sống vì cớ sự công bình nó đã làm.
22Anih mah sak ih zaehaihnawk boih to pakuem pae mak ai boeh; anih loe a sak ih katoeng hmuen pongah hing tih.
23Chúa Giê-hô-va phán rằng: Ta há có vui chút nào về sự chết của kẻ dữ sao? há chẳng thà vui về sự nó xây bỏ đường lối mình và nó sống sao?
23Kazae kami duek pongah palung kang hoe maw? Anih mah a caehhaih loklam angqoi taak moe, hinghaih hnuk to ka koeh haih kue na ai maw? tiah Angraeng Sithaw mah thuih.
24Nhưng nếu kẻ công bình xây bỏ sự công bình của mình, nếu nó phạm sự gian ác, nếu nó bắt chước mọi sự gớm ghiếc mà kẻ dữ tự làm, thì nó sẽ sống không? Không có một việc công bình nào nó đã làm sẽ được nhớ lại; vì cớ sự phạm pháp mà nó đã làm, và tội lỗi nó đã phạm, nên nó sẽ chết trong đó.
24Toe katoeng kami loe a toenghaih hoiah angqoi ving moe, kasae kaminawk mah sak o ih zaehaih hoi panuet thok hmuennawk to sah nahaeloe, anih to hing tih maw? Canghnii ah a sak ih katoeng hmuennawk to pakuem pae mak ai boeh; a sakpazaehaih hmuen hoiah a sak ih zaehaih pongah, anih loe dueh tih.
25Các ngươi lại nói rằng: Đường lối của Chúa là không bằng phẳng! Vậy, hỡi nhà Y-sơ-ra-ên, hãy nghe: Đường lối của ta há không bằng phẳng sao? Há chẳng phải đường lối của các ngươi là không bằng phẳng sao?
25Toe nangcae mah loe, Angraeng ih loklam loe toeng ai, tiah na thuih o. Aw Israel imthung takohnawk, tahngai ah; Kai ih loklam loe toeng, nangcae ih loklam loe toeng ai!
26Nếu kẻ công bình xây bỏ sự công bình mình, nếu nó phạm sự gian ác, và nếu nó vì cớ ấy mà chết; ấy là vì tội ác nó đã phạm mà nó chết.
26Katoeng kami loe a toenghaih to caehtaak moe, zaehaih sah nahaeloe, to zaehaih pongah dueh tih, anih loe a sak ih zaehaih pongah dueh tih.
27Nếu kẻ dữ xây bỏ sự dữ mình đã phạm, nếu nó làm theo luật pháp và hiệp với lẽ thật, thì nó sẽ cứu linh hồn mình cho được sống.
27Toe kami zae loe a sak ih zaehaih to angqoi taak moe, katoeng hmuen hoi patuk ih lok baktiah toksah nahaeloe, a hinghaih to pahlong tih.
28Vì nó suy xét và xây bỏ mọi sự phạm pháp mình đã làm, chắc thật nó sẽ sống và không chết đâu.
28A sakpazae ih hmuennawk boih to a poek het moe, a toengh sut boeh pongah, anih loe hing tangtang tih, dueh mak ai.
29Nhưng mà nhà Y-sơ-ra-ên nói rằng: Đường lối của Chúa là không bằng phẳng. Hỡi nhà Y-sơ-ra-ên có phải là đường lối của ta không bằng phẳng sao? Há chẳng phải đường lối của các ngươi là không bằng phẳng sao?
29Toe Israel imthung takoh mah loe, Angraeng ih loklam loe toeng ai, tiah thuih o. Aw Israel imthung takoh, Kai ih loklam loe toeng, nangcae ih loklam loe toeng ai!
30Vậy nên Chúa Giê-hô-va phán rằng: Hỡi nhà Y-sơ-ra-ên, ta sẽ đoán xét các ngươi, mỗi người theo việc làm của nó. Hãy trở lại và xây bỏ mọi sự phạm pháp của các ngươi; vậy thì sự gian ác không trở nên cớ hư nát cho các ngươi.
30To pongah, Aw Israel imthung takoh, kami boih a caehhaih loklam baktih toengah lok ka caek han, tiah Angraeng Sithaw mah thuih. Dawnpakhuem oh loe, na sakpazae o ih hmuennawk boih thung hoiah amlaem oh; to tiah nahaeloe na sakpazae o ih hmuennawk loe nam rohaih ah om mak ai.
31Hãy liệng xa các ngươi mọi sự phạm pháp mà tự mình đã làm. Hãy làm cho mình lòng mới và thần mới; vì, hỡi nhà Y-sơ-ra-ên, làm sao mà các ngươi muốn chết?
31Na sakpazae ih hmuennawk to takhoe o boih loe, kangtha palungthin hoi muithla to talawk oh; Aw Israel imthung takoh, tipongah na duek o han loe?
32Chúa Giê-hô-va phán rằng: Thật vậy, ta không vui đâu về sự chết của kẻ phải chết, vậy các ngươi hãy xây lại, mà được sống!
32Dueh kami duekhaih pongah palung Kang hoe ai, to pongah dawnpakhuem oh loe, hing oh! tiah Angraeng Sithaw mah thuih.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.