Ê-xê
Chapter 36
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Asang Khongca Bibl…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Hỡi con người, hãy nói tiên tri về các núi của Y-sơ-ra-ên, và rằng: Hỡi các núi của Y-sơ-ra-ên, hãy nghe lời Đức Giê-hô-va!
1Kami capa, Israel maenawk khaeah lokthui ah, hae tiah thui ah, Nangcae Israel ih maenawk, Angraeng ih lok hae tahngai oh,
2Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Vì quân thù nghịch có nói về bay rằng: Ê! Những gò cao đời xưa thuộc về chúng ta làm sản nghiệp!
2Angraeng Sithaw mah, Na misanawk mah, “Ha, ha, canghnii ih hmuensangnawk loe kaicae han ni oh boeh, tiah a thuih o pongah;
3Vì cớ đó, hãy nói tiên tri, và rằng: Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Thật, vì chúng nó đã làm cho bay nên hoang vu, và nuốt bay tư bề, đặng bay trở nên sản nghiệp của những kẻ sót lại của các nước, và bay bị miệng kẻ hay nói bàn luận, và bị dân sự chê bai,
3lok to taphong ah, Angraeng Sithaw mah, Nangcae loe anghmat Sithaw panoek ai kaminawk ih qawk ah na oh o thai hanah, nihcae mah ang paro o moe, ahnuk ahma bang hoiah ang caak o, minawk mah kasae thui ih kami ah na oh o, tiah thuih:
4vì cớ đó, hỡi các núi của Y-sơ-ra-ên, hãy nghe lời của Chúa Giê-hô-va: Chúa Giê-hô-va phán như vầy cho các núi và các gò, cho khe suối và đồng trũng, cho nơi đổ nát hoang vu và các thành bị bỏ, đã phó cho những kẻ sót lại của các nước chung quanh bay cướp bóc và nhạo báng,
4to pongah aw Israel maenawk, Angraeng Sithaw ih lok hae tahngai oh; Angraeng Sithaw mah, maenawk, maesomnawk, vapuinawk, tahawtnawk to pong sut ueloe, azawn taengah kaom Sithaw panoek ai kaminawk mah pahnui thui ih angqai krang vangpui ah om tih boeh, tiah thuih.
5vì cớ đó, Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Thật, trong cơn ghen tương nóng nảy, ta rao lời án nghịch cùng kẻ sót lại của các nước ấy và cả Ê-đôm, là những kẻ đầy lòng vui mừng và ý khinh dể, định đất của ta cho mình làm kỷ vật, đặng phó nó cho sự cướp bóc.
5Angraeng Sithaw mah, Poek nawmhaih hoi kai ih prae lomh moe, uthaih palung hoi angmacae ih qawk baktiah kala, anghmat Sithaw panoek ai prae kaminawk hoi Edumea kaminawk boih khaeah hmai baktih amngaeh palungphuihaih hoiah misa suekhaih lok to ka taphong tangtang boeh, tiah thuih.
6Vậy nên, hãy nói tiên tri về đất của Y-sơ-ra-ên; hãy nói với các núi và các gò, khe suối và đồng trũng rằng: Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Thật ta phán trong cơn ghen và cơn giận của ta, vì bay đã chịu sự hổ nhuốc của các nước.
6To pongah Israel prae kawng ah, maenawk, maesomnawk, vapuinawk, longhawhnawk khaeah, Angraeng Sithaw mah, Khenah, Sithaw panoek ai kaminawk ih pacaekthlaekhaih to na tongh o hmoek boeh pongah, paroeai palungphuihaih, uthaih hoiah lok ka thuih boeh, tiah thui paeh, tiah ang naa.
7Vậy nên, Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Ta đã thề rằng: Các nước chung quanh bay chắc sẽ chịu hổ nhuốc!
7To pongah Angraeng Sithaw mah, Nangcae taengah kaom Sithaw panoek ai kaminawk loe angmacae azathaih to zok o tih, tiah ban phokhaih hoiah lok ka kam boeh.
8Nhưng bay, các núi Y-sơ-ra-ên, sẽ sanh những nhánh và ra trái cho dân Y-sơ-ra-ên ta; vì chúng nó sắp trở về.
8Toe nangcae, Aw Israel maenawk, tanghang to na cawn o ueloe, kai ih Israel kaminawk hanah athaih na thai pae o tih, nihcae loe angzoh o tom boeh.
9Nầy, ta hướng về bay, xây lại cùng bay, và bay sẽ bị cày cấy gieo vãi.
9Khenah, kai loe nangcae hanah ka oh, nangcae khaeah kam laem let moe, nangcae nuiah laikok atok pacoengah, aanmu to ka haeh han.
10Trên đất bay ta sẽ thêm số dân cư và số con cái cả nhà Y-sơ-ra-ên. Các thành sẽ có người ở, các nơi đổ nát sẽ được dựng lại.
10Nangcae nui hoi Israel imthung takohnawk boih nuiah kami ka pungsak han; vangpuinawk thungah kami om ueloe, kamro hmuennawk to sak let ah om tih.
11Ta sẽ thêm loài người và loài vật trên đất bay, chúng nó sẽ thêm nhiều và nẩy nở; ta sẽ làm cho bay đông dân như lúc trước, và ban ơn cho bay hơn thuở ban đầu. Bấy giờ bay sẽ biết ta là Đức Giê-hô-va.
11Nangcae nuiah kami hoi moinawk ka pungsak han, nihcae loe pung o ueloe, caa sah o tih; nangcae loe na oh o haih ahmuen kangquem ah kang suek han, to naah nangcae loe hnukbang khosakhaih pongah khosak na hoih o kue tih; to naah Kai loe Angraeng ni, tiah na panoek o tih, tiah thuih.
12Ta sẽ làm cho những dân cư bước đi trên đất ngươi, tức là dân Y-sơ-ra-ên ta. Thật, chúng nó sẽ được mầy làm kỷ vật; mầy sẽ làm sản nghiệp chúng nó, và không làm mất con cái chúng nó nữa.
12Ue, nangcae nuiah kaimah ih kami, Israelnawk to kam kaehsak han; nihcae mah na la o ueloe, nihcae ih qawk ah na om o tih, nangcae loe nihcae ih caa anghmasak kami ah na om o mak ai boeh.
13Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Vì người ta nói cùng bay rằng: Hỡi đất, mầy nuốt người ta, và làm mất con cái của dân mầy đi,
13Angraeng Sithaw mah hae tiah thuih; kaminawk mah nang khaeah, nang, long loe kaminawk to na caak moe, a caanawk doeh nam rosak, tiah thuih o;
14cũng vì cớ đó, mầy chẳng nuốt người ta nữa, và không làm mất con cái của dân mầy đi nữa, Chúa Giê-hô-va phán vậy.
14to pongah kami to na caa mak ai boeh, acaeng kaminawk doeh nam rosak mak ai boeh.
15Ta không để cho mầy nghe những lời nhiếc móc của các nước nữa; mầy sẽ không còn chịu sự nhuốc nhơ của các dân nữa, và mầy không khiến dân mình vấp phạm nữa, Chúa Giê-hô-va phán vậy.
15Sithaw panoek ai kaminawk mah pahnui thuihaih om mak ai boeh, kaminawk mah kasae thuihaih doeh kang tongh sak mak ai ueloe, na prae kaminawk doeh amtim o sak mak ai boeh, tiah Angraeng Sithaw mah thuih.
16Lại có lời Đức Giê-hô-va phán cùng ta rằng:
16Angraeng ih lok kai khaeah angzoh,
17Hỡi con người, khi nhà Y-sơ-ra-ên ở trong đất mình, đã làm ô uế đất ấy bởi đường lối và việc làm của mình: đường lối chúng nó ở trước mặt ta như là sự ô uế của một người đàn bà chẳng sạch.
17kami capa, Israel kaminawk angmacae prae thungah oh o naah, angmacae koeh baktiah sak o ih tuinuen hoi hmuennawk mah prae to amhnongsak boeh; nihcae ih tuinuen loe nongpata mah khrah kruek hnuk ih kaciim ai hmuen baktiah ni oh.
18Ta đã rải cơn thạnh nộ của ta trên chúng nó, vì cớ huyết mà chúng nó đã làm đổ ra trên đất, và vì chúng nó đã làm ô uế đất ấy bởi thần tượng mình.
18To pongah prae thungah athii to long o sak moe, krang sakhaih rang hoiah prae to panuet thok ah a sak o pongah, nihcae nuiah palungphuihaih ka kraih thuih boeh.
19Ta đã làm tan tác chúng nó trong các dân, và chúng nó đã bị rải ra trong nhiều nước; ta đã xét đoán chúng nó theo đường lối và việc làm.
19Nihcae to Sithaw panoek ai kaminawk salakah kam hetsak moe, prae kruekah ka proengsak; a sak o ih tuinuen hoi hmuennawk baktih toengah, nihcae to lok ka caek.
20Khi chúng nó đã tới trong các nước mà chúng nó đã đi đến, thì chúng nó đã phạm danh thánh ta, đến nỗi người ta nói về chúng nó rằng: Aáy là dân của Đức Giê-hô-va; chúng nó đã ra đi từ đất Ngài!
20Sithaw panoek ai kaminawk salakah a caeh o naah, Hae kaminawk loe Sithaw ih kami ah oh o, nihcae loe angmacae prae thung hoiah tacawt o boeh, tiah kaminawk mah thuih o.
21Nhưng ta tiếc danh thánh của ta mà nhà Y-sơ-ra-ên đã phạm trong các dân tộc, là nơi nhà ấy đã đi đến.
21Toe Israel imthung takoh loe caehhaih ahmuen kruek, Sithaw panoek ai kaminawk salakah kai ahmin kasae a thuih o pongah, kaimah ih kaciim ahmin to ka tahmenh.
22Vậy nên hãy nói cùng nhà Y-sơ-ra-ên rằng: Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Hỡi nhà Y-sơ-ra-ên, ấy chẳng phải vì cớ các ngươi mà ta làm cách ấy, nhưng vì cớ danh thánh ta mà các ngươi đã phạm trong các dân, là nơi các ngươi đã đi đến.
22To pongah Israel imthung takoh khaeah, Angraeng Sithaw mah, Aw Israel imthung takoh, hae hmuen hae nang hanah ka sah mak ai, na caeh o haih ahmuen kruek ih Sithaw panoek ai kaminawk salakah kasae na thuih o ih, kaciim ka hmin han ih ni ka sak.
23Ta sẽ làm nên thánh danh lớn của ta, là danh đã bị phạm trong các dân, giữa các dân đó các ngươi đã phạm danh ấy. Chúa Giê-hô-va phán: Như vậy các dân tộc sẽ biết ta là Đức Giê-hô-va, khi trước mắt chúng nó ta sẽ được tỏ ra thánh bởi các ngươi.
23Sithaw panoek ai kaminawk salakah kasae na thuih o ih kalen, Kaimah ih ahmin to kam tuengsak han; nangcae rang hoiah ka ciimhaih nihcae hmaa ah kam tuengsak naah, Sithaw panoek ai kaminawk mah Kai loe Angraeng ni, tito panoek o tih, tiah Angraeng Sithaw mah thuih.
24Ta sẽ thâu lấy các ngươi khỏi giữa các dân; ta sẽ nhóm các ngươi lại từ mọi nước, và đem về trong đất riêng của các ngươi.
24Nangcae to Sithaw panoek ai kaminawk thung hoiah kang hoih o han, prae thung boih hoiah kang tacuu o moe, na prae thungah kang caeh o haih let han.
25Ta sẽ rưới nước trong trên các ngươi, và các ngươi sẽ trở nên sạch; ta sẽ làm sạch hết mọi sự ô uế và mọi thần tượng của các ngươi.
25Nangcae nuiah kaciim tui to kang pathaek han, to naah loe na ciimcai o tih boeh; nam hnong o haih hoi krang na bok o haih thung hoiah kang pasaeh o han.
26Ta sẽ ban lòng mới cho các ngươi, và đặt thần mới trong các ngươi. Ta sẽ cất lòng bằng đá khỏi thịt các ngươi, và ban cho các ngươi lòng bằng thịt.
26Kangtha palungthin to kang paek o moe, nangcae thungah kangtha pakhra to ka suek han; thlung baktih kamtaak palungthin to na ngan thung hoiah ka lak moe, angan kaom palungthin to kang paek han.
27Ta sẽ đặt Thần ta trong các ngươi, và khiến các ngươi noi theo luật lệ ta, thì các ngươi sẽ giữ mạng lịnh ta và làm theo.
27Nangcae thungah kaimah ih Muithla to ka suek moe, ka paek ih loknawk to ka pazuisak han; to naah ka lokcaekhaih to na pakuem o ueloe, na sah o tih boeh.
28Các ngươi sẽ ở trong đất mà ta đã ban cho tổ phụ các ngươi; các ngươi sẽ làm dân ta, ta sẽ làm Đức Chúa Trời các ngươi.
28Nam panawk khaeah ka paek ih prae thungah na om o tih; nangcae loe Kai ih kami ah na om o ueloe, Kai doeh nangcae ih Sithaw ah ka om tih.
29Ta sẽ giải cứu các ngươi khỏi mọi sự ô uế; ta sẽ gọi lúa mì tốt lên, khiến cho nẩy nở thêm nhiều, và không giáng cho các ngươi sự đói kém.
29Ciimcai ai hmuennawk boih thung hoiah kang pahlong o han; cang to ka kawk moe, paroeai ka pungsak han, nangcae nuiah khokhahaih om mak ai boeh.
30Ta sẽ thêm nhiều trái cây và hoa lợi của đồng ruộng, hầu cho các ngươi không vì đói kém chịu sự xấu hổ ở giữa các nước.
30Thingthai qumpo to ka pungsak moe, lawk ih aannawk doeh ka pungsak han, to naah khokhahaih pongah Sithaw panoek ai kaminawk salakah ahminsethaih na tawn o mak ai boeh.
31Bấy giờ các ngươi sẽ nhớ lại đường lối xấu xa của mình, và việc làm của mình là không tốt. Chính các ngươi sẽ tự gớm ghét mình, vì cớ tội lỗi và những sự gớm ghiếc của các ngươi.
31To naah na sak ih tuinuen sethaih hoi kahoih ai hmuennawk to na panoek tih, na sak ih zaehaih hoi panuet thok hmuennawk pongah nangmah hoi nangmah to nam nuet tih boeh.
32Chúa Giê-hô-va phán: Chẳng phải vì cớ các ngươi mà ta làm như vậy, các ngươi khá biết rõ. Hỡi nhà Y-sơ-ra-ên, khá biết hổ và mắc cỡ về đường lối mình.
32Hae hmuen hae nangcae hanah ka sah ai, tito panoek oh, Aw Israel imthung takoh, na sak o ih hmuennawk pongah azat oh loe, ahminsethaih hoiah om oh, tiah Angraeng Sithaw mah thuih.
33Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Ngày mà ta sẽ làm sạch mọi tội lỗi các ngươi, ta sẽ lại làm cho thành các ngươi có dân ở, và những chỗ đổ nát sẽ dựng lại.
33Angraeng Sithaw mah, Na zaehaihnawk boih ka pasaeh moe, kamro hmuennawk to ka sak let naah loe, vangpui thungah kang ohsak han.
34Đất hoang vu sẽ cầy cấy, dầu mà trước đã hoang vu trước mắt mọi kẻ đi qua.
34A taengah caeh tathuk caeh tahang kaminawk mikhnuk ah kapong sut ahmuen to laikok atokhaih ahmuen ah om let tih boeh.
35Chúng nó sẽ nói rằng: Đất hoang vu nầy đã trở nên như vườn Ê-đen; những thành đổ nát, hoang vu, tàn phá kia, kìa đã có tường vách và dân ở!
35Nihcae mah, Hae ih kapong sut ahmuen loe Eden takha baktiah oh boeh; angqai krangah kaom, kapong sut moe, amro vangpuinawk doeh sipae to thungh o moe, kaminawk khosak o boeh, tiah thui o tih.
36Bấy giờ các dân tộc còn sót lại xung quanh các ngươi sẽ biết rằng ta, Đức Giê-hô-va, đã cất lại nơi bị phá, trồng lại nơi bị hủy. Ta, Đức Giê-hô-va, đã phán lời đó, và sẽ làm thành.
36To naah nangcae taengah kaom Sithaw panoek ai kaminawk mah, Kai Angraeng mah ni, kamro ahmuennawk to sak let moe, kapong sut ahmuen ah laikok atok let, Kai Angraeng loe thuih ih lok baktiah sak, tito panoek o tih.
37Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Ta còn muốn nhà Y-sơ-ra-ên cầu hỏi ta để ta làm sự nầy cho: Ta sẽ thêm nhiều người nam nó như một bầy chiên.
37Angraeng Sithaw mah, Hae hmuen sak hanah Israel imthung takoh mah na hni o tih; nihcae loe tuu baktiah ka pungsak han.
38Các thành đổ nát sẽ đầy những bầy người, như bầy chiên để làm của lễ, như bầy của Giê-ru-sa-lem trong ngày lễ trọng thể. Và chúng nó sẽ biết ta là Đức Giê-hô-va.
38Canghnii ah Jerusalem loe poihsak naah boh han ih kaciim tuunawk hoiah koi mong baktih toengah, kamro vangpuinawk doeh kami hoiah koi o tih; to naah nihcae mah Kai loe Angraeng ni, tito panoek o tih, tiah thuih.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.