Xuất
Chapter 24
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Baibala Hemolele (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
1Đức Chúa Trời phán cùng Môi-se rằng: Ngươi và A-rôn, Na-đáp, và A-bi-hu cùng bảy mươi trưởng lão Y-sơ-ra-ên hãy lên cùng Đức Giê-hô-va ở đằng xa mà lạy.
1I MAI la oia ia Mose, E pii mai oe io Iehova nei, o oe, a me Aarona, a me Nadaba, a me Abihu, a me na lunakahiko o ka Iseraela he kanahiku; a e hoomana oukou ma kahi mamao aku.
2Chỉ một mình Môi-se sẽ đến gần Đức Giê-hô-va mà thôi, còn họ không đến gần, và dân sự cũng không lên cùng người.
2A o Mose wale no ka mea hele mai a kokoke io Iehova nei: aka, o lakou aole hele mai a kokoke; aole hoi e pii pu na kanaka me ia.
3Môi-se bèn đến thuật lại cho dân sự mọi lời phán của Đức Giê-hô-va và các luật lệ, thì chúng đồng thinh đáp rằng: Chúng tôi sẽ làm mọi lời Đức Giê-hô-va phán dạy.
3Hoi ae la o Mose, a hai aku la i kanaka i na olelo a pau a Iehova, a me na kanawai a pau; hooho mai la na kanaka a pau me ka leo kahi, i mai la, O na olelo a pau a Iehova i olelo mai ai, e hana no makou.
4Môi-se chép hết mọi lời của Đức Giê-hô-va; rồi dậy sớm, xây một bàn thờ nơi chân núi, dựng mười hai cây trụ chỉ về mười hai chi phái Y-sơ-ra-ên.
4A kahakaha iho la o Mose i na olelo a pau a Iehova, a ala'e la i kakahiaka nui, a kukulu iho la i kuahu malalo o ka mauna, a me na kia he umikumamalua, e like me na ohana he umikumamalua o ka Iseraela.
5Người sai kẻ trai trẻ của dân Y-sơ-ra-ên đi dâng của lễ thiêu và của lễ thù ân cho Đức Giê-hô-va bằng con bò tơ.
5A hoouna ae la ia i mau kanaka ui o na mamo a Iseraela, na lakou i mohai aku i na mahaikuni, no Iehova, a kaumaha aku no hoi lakou i mau bipi kane i mohai hoomalu.
6Môi-se lấy phân nửa huyết đựng trong các chậu, còn phân nửa thì rưới trên bàn thờ.
6A lawe iho la o Mose i ka hapalua o ke koko, a waiho aku la maloko o na kiaha, a kapipi iho la ia i kekahi hapalua o ke koko maluna o ke kuahu.
7Đoạn, người cầm quyển sách giao ước đọc cho dân sự nghe, thì dân sự nói rằng: Chúng tôi sẽ làm và vâng theo mọi lời Đức Giê-hô-va phán chỉ.
7A lawe iho la ia i ka buke o ka berita, a heluhelu ma na pepeiao o na kanaka. Olelo aku la lakou, E hana no makou i na mea a pau a Iehova i olelo mai ai, a e hoolohe no.
8Môi-se bèn lấy huyết rưới trên mình dân sự mà nói rằng: Đây là huyết giao ước của Đức Giê-hô-va đã lập cùng các ngươi y theo mọi lời nầy.
8A lawe ae la o Mose i ke koko, a kapipi iho la maluna o na kanaka, olelo mai la, Aia hoi ke koko o ka berita a Iehova i hana mai ai me oukou no keia mau olelo a pau.
9Đoạn, Môi-se và A-rôn, Na-đáp và A-bi-hu cùng bảy mươi trưởng lão dân Y-sơ-ra-ên đều lên núi,
9Alaila, pii aku la o Mose, a me Aarona, a me Nadaba, a me Abihu, a me na lunakahiko o ka Iseraela.
10ngó thấy Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, dưới chân Ngài có một vật giống bích ngọc trong ngần, khác nào như sắc trời thanh-quang.
10A ike aku la lakou i ke Akua o ka Iseraela, a malalo iho o kona mau wawae he mea me he sapeiro ka aiai, e like hoi me ke kino o na lani ke kalae.
11Ngài chẳng tra tay vào những người tôn trọng trong vòng dân Y-sơ-ra-ên; nhưng họ ngó thấy Đức Chúa Trời, thì ăn và uống.
11Aole ia i kau mai i kona lima maluna o na luna o na mamo o ka Iseraela. A ike no lakou i ke Akua, a ai no, a inu no hoi.
12Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: Hãy lên núi, đến cùng ta và ở lại đó; ta sẽ ban cho ngươi bảng đá, luật pháp và các điều răn của ta đã chép đặng dạy dân sự.
12Olelo mai la o Iehova ia Mose, E hele mai oe io'u nei i ka mauna, a e noho malaila; a e haawi aku au ia oe i pohaku papa, me ke kanawai, a me na kauoha a'u i palapala ai, i ao aku oe ia mea.
13Môi-se bèn chờ dậy cùng Giô-suê, kẻ hầu mình, rồi Môi-se đi lên núi Đức Chúa Trời.
13Ku ae la o Mose iluna, a me kana kauwa o Iosua: a pii aku la o Mose i ka mauna o ke Akua.
14Người bèn nói cùng các trưởng lão rằng: Hãy đợi chúng tôi tại đây cho đến chừng nào trở về cùng các ngươi. Nầy, A-rôn và Hu-rơ ở lại cùng các ngươi, ai có việc chi hãy hỏi hai người đó.
14Olelo iho la ia i na lunakahiko, E kakali oukou no maua, a hoi mai maua ia oukou: aia hoi, me oukou o Aarona haua me Hura; a o ka mea loaa kahi pilikia, e hele ae ia io laua la.
15Vậy, Môi-se lên núi, mây che phủ núi.
15Pii aku la o Mose i ka mauna, a uhi mai la ka ohu i ka mauna.
16Sự vinh quang của Đức Giê-hô-va ở tại núi Si-na-i; trong sáu ngày mây phủ núi, qua ngày thứ bảy Đức Giê-hô-va ngự trong đám mây gọi Môi-se.
16Puwa mai la ka nani a Iehova maluna o ka mauna i Sinai, a uhi mai la ka ohu maluna iho i na la eono; a i ka hiku o ka la hea mai la oia ia Mose, maloko mai o ka ohu.
17Cảnh trạng của sự vinh quang Đức Giê-hô-va nơi đỉnh núi, trước mặt dân Y-sơ-ra-ên, khác nào như đám lửa hừng.
17I na maka o na mamo a Iseraela, i ka nana ana i ka nani o Iehova, ua like ia me ke ahi e ai ana ma ke poo o ka mauna.
18Môi-se vào giữa đám mây, lên núi, ở tại đó trong bốn mươi ngày và bốn mươi đêm.
18Hele aku la o Mose iloko pono o ka ohu, a pii aku la i ka mauna, a malaila no o Mose ma ka mauna hookahi kanaha ao, hookahi kanaha po.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.