Xuất 8
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
1Đoạn, Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: Hãy đi ra mắt Pha-ra-ôn, và tâu cùng người rằng: Đức Giê-hô-va có phán như vầy: Hãy tha cho dân ta đi, để chúng nó hầu việc ta.
1ALAILA, i mai la o Iehova ia Mose, O hele oe io Parao la, a e i aku ia ia, Ke i mai nei o Iehova penei, E hookuu mai oe i ko'u poe Kanaka, i hookauwa mai lakou na'u.
2Nếu ngươi không tha cho đi, nầy ta sẽ giáng tai nạn ếch nhái khắp bờ cõi ngươi.
2A ina paha e hookuu ole mai oe, aia hoi, e hoino no wau i kou mau mokuna a pau i na rana;
3Sông sẽ sanh đông đúc ếch nhái, bò lên vào cung điện, phòng ngủ, và trên giường ngươi, vào nhà đầy tớ và dân sự ngươi, trong lò bếp, cùng nơi nhồi bột làm bánh của ngươi.
3A e hoopuka nui mai ka muliwai i na rana, a e hele mai lakou iloko o kou hale, a me kou keena moe, a maluna o kou hikiee, a iloko o ka hale o kau poe kauwa, a maluna o kou poe kanaka, a maloko o kou mau imu, a maloko hoi o kou mau pa wili ai.
4Eách nhái sẽ bò lên mình ngươi, lên mình dân sự và mọi đầy tớ ngươi.
4A e hele mai auanei na rana maluna ou, a maluna o kou poe kanaka, a maluna o kau poe kauwa a pau.
5Vậy, Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: Hãy truyền cho A-rôn rằng: Hãy cầm gậy giơ tay ra trên rạch, trên sông và trên bàu, khiến ếch nhái tràn lên xứ Ê-díp-tô.
5I mai la o Iehova ia Mose, E i aku oe ia Aarona, E o aku kou lima me kou kookoo maluna o na kahawai, a me na muliwai, a me na loko, i hiki mai na rana maluna o ka aina o Aigupita.
6A-rôn giơ tay mình trên các sông rạch xứ Ê-díp-tô, ếch nhái bò lên lan khắp xứ.
6O aku la no ko Aarona lima maluna o ka wai o Aigupita, a hiki mai la na rana, a hoouhi paapu ae la i ka aina o Aigupita.
7Các thuật sĩ cũng cậy phù chú mình làm y như vậy, đặng khiến ếch nhái bò lên xứ Ê-díp-tô.
7Hana iho la no pela na magoi i ka lakou mea e kilokilo ai, i hoohiki mai ai i na rana ma ka aina o Aigupita.
8Pha-ra-ôn bèn đòi Môi-se và A-rôn mà phán rằng: Hãy cầu nguyện Đức Giê-hô-va, để Ngài khiến ếch nhái cách xa ta và dân sự ta; thì ta sẽ tha dân Hê-bơ-rơ đi tế Đức Giê-hô-va.
8Alaila, hea mai la o Parao ia Mose a me Aarona, i mai la, E pule aku olua ia Iehova, i lawe aku ia i na rana mai o'u aku nei, a mai ko'u poe kanaka aku, a e hookuu no wau i na kanaka, i kaumaha ai lakou na Iehova.
9Môi-se bèn tâu cùng Pha-ra-ôn rằng: Xin hãy định chừng nào tôi phải vì bệ hạ, đầy tớ cùng dân sự bệ hạ mà cầu khẩn Đức Giê-hô-va, để trừ ếch nhái lìa khỏi bệ hạ và cung điện, chỉ còn dưới sông mà thôi.
9I aku la o Mose ia Parao, E kauoha pono mai oe ia'u, i ka manawa hea ka'u e pule aku ai nou, a no kau poe kauwa hoi, a no kou poe kanaka, i laweia aku na rana mai ou aku la, a mai kou kauhale aku, a koe ma ka muliwai wale no?
10Vua đáp rằng: Đến ngày mai. Môi-se rằng: Sẽ làm y theo lời, hầu cho bệ hạ biết rằng chẳng có ai giống như Giê-hô-va là Đức Chúa Trời chúng tôi.
10Olelo mai la kela, Apopo. I aku la ia, E like me kau olelo, pela no auanei ia, i ike pono ai oe, aohe mea e ae e like me Iehova ko makou Akua.
11Vậy, ếch nhái sẽ lìa xa bệ hạ, cung điện, tôi tớ, cùng dân sự của bệ hạ; chỉ còn lại dưới sông mà thôi.
11A e haalele mai no na rana ia oe, a me kou hale, a me kau poe kauwa, a me kou poe kanaka, a e koe ma ka muliwai wale no.
12Môi-se và A-rôn bèn lui ra khỏi Pha-ra-ôn; Môi-se kêu cầu Đức Giê-hô-va về việc ếch nhái mà Ngài đã khiến đến cho Pha-ra-ôn.
12Hele aku la o Mose laua o Aarona mai o Parao aku la: uwe aku la o Mose ia Iehova no na rana ana i lawe mai ai maluna o Parao.
13Đức Giê-hô-va làm y theo lời Môi-se; ếch nhái trong nhà, trong làng, ngoài đồng đều chết hết.
13Hana iho la o Iehova e like me ka Mose olelo ana, a make iho la na rana ma na hale, a ma na pahale a ma na kula.
14Người ta dồn ếch nhái lại từ đống, và cả xứ hôi thúi lắm.
14Hoiliili ae la lakou i na rana ma na puu: a pilau iho la ka aina.
15Nhưng Pha-ra-ôn thấy được khỏi nạn, bèn rắn lòng, chẳng nghe Môi-se và A-rôn chút nào, y như lời Đức Giê-hô-va đã phán.
15A ike iho la o Parao, he maha, hoopaakiki iho la ia i kona naau, aole i hoolohe mai i ka laua; e like me ka Iehova i olelo mai ai.
16Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: Hãy truyền cho A-rôn rằng: Hãy giơ gậy anh ra, đập bụi trên đất: bụi sẽ hóa muỗi khắp cả xứ Ê-díp-tô.
16Olelo mai la o Iehova ia Mose, E i aku oe ia Aarona, e o aku oe i kou kookoo, a e hahau i ka lepo o ka aina, i lilo ia i makika ma ka aina a pau o Aigupita.
17Hai người làm y như vậy. A-rôn cầm gậy giơ tay ra, đập bụi trên đất, bụi liền hóa thành muỗi, bu người và súc vật; hết thảy bụi đều hóa thành muỗi trong xứ Ê-díp-tô.
17Hana iho la laua pela; o aku la no ko Aarona lima me kona kookoo, hahau iho la i ka lepo o ka aina, a lilo ae la ia i makika ma na kanaka, a ma na holoholona; lilo no na hunalepo a pau o ka aina i makika ma ka aina a pau o Aigupita.
18Các thuật sĩ cũng muốn cậy phù chú mình làm như vậy, để hóa sanh muỗi, nhưng làm chẳng đặng. Vậy, muỗi bu người và súc vật.
18Hana iho la no pela na magoi, me ko lakou mea kilokilo, i hiki mai ai ka makika, aole nae i hiki ia lakou. He makika no nae maluna o na kanaka, a maluna o na holoholona.
19Các thuật sĩ bèn tâu cùng Pha-ra-ôn rằng: Aáy là ngón tay của Đức Chúa Trời; nhưng Pha-ra-ôn cứng lòng, chẳng nghe Môi-se và A-rôn chút nào, y như lời Đức Giê-hô-va đã phán.
19Alaila olelo ae la na magoi ia Parao, Eia no ka lima o ke Akua. Ua hoopaakikiia no nae ko Parao naau; aole ia i hoolohe i ka laua, e like me ka Iehova i olelo mai ai.
20Kế đó, Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: Nầy Pha-ra-ôn sẽ ngự ra mé sông, ngươi hãy dậy sớm, đi ra mắt người, mà tâu rằng: Đức Giê-hô-va có phán như vầy: Hãy tha cho dân ta đi, để chúng nó hầu việc ta.
20Olelo mai la o Iehova ia Mose, A kakahiaka nui, e ala ae oe, a e ku imua i ke alo o Parao, aia hoi, e hele mai no ia iwaho i ka wai, a e i aku oe ia ia, Ke olelo mai nei o Iehova penei, E hookuu oe i ko'u poe kanaka, i hookauwa mai lakou na'u.
21Vì nếu ngươi không cho đi, nầy, ta sẽ sai ruồi mòng bu nơi ngươi, quần thần, dân sự và cung điện ngươi; nhà của người Ê-díp-tô đều sẽ bị ruồi mòng bu đầy, và khắp trên đất nữa.
21Aka hoi, ina aole oe e hookuu mai i ko'u poe kanaka, aia hoi, e hoouna aku no au i na nalonahu maluna ou, a maluna o kau poe kauwa, a maluna o kou poe kanaka, a maloko o kou mau hale; a e piha na hale o ko Aigupita i na nalonahu, a me ka aina hoi kahi a lakou e noho ai.
22Nhưng ngày đó, ta sẽ phân biệt xứ Gô-sen ra, là nơi dân ta ở, không có ruồi mòng, hầu cho ngươi biết rằng ta, Giê-hô-va, có ở giữa xứ.
22Ia la hoi, e hookaawale auanei au i ka aina o Gosena, i kahi e noho nei ko'u poe kanaka, i hiki ole ai ka nalonahu ilaila; i mea e ike ai oe, owau no Iehova mawaena o ka honua.
23Ta sẽ phân biệt dân ta cùng dân ngươi. Đến mai, dấu lạ nầy tất sẽ có.
23A e kaa no au i pale mawaena o ko'u poe kanaka a me kou poe kanaka. Apopo e hiki mai keia mea.
24Đức Giê-hô-va bèn làm y như lời. Vậy, trong cung điện Pha-ra-ôn, nhà cửa của quần thần người cùng cả xứ Ê-díp-tô đều có ruồi mòng vô số, đất bị ruồi mòng hủy hoại.
24Hana iho la no o Iehova pela: a hiki mai la na nalonahu he nui loa maloko o ka hale o Parao, a me na hale o kana poe kauwa, a ma ka aina a pau o Aigupita: ua oki loa ka aina i na nalonahu.
25Pha-ra-ôn bèn đòi Môi-se và A-rôn mà phán rằng: Hãy đi dâng tế lễ cho Đức Chúa Trời các ngươi trong xứ.
25Hea mai la o Parao ia Mose a me Aarona, i mai la, E hele oukou, a e kaumaha aku i ko oukou Akua maloko o ka aina nei.
26Nhưng Môi-se tâu rằng: Làm như vậy chẳng tiện, vì các của lễ mà chúng tôi sẽ tế Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng tôi, là một điều gớm ghê cho người Ê-díp-tô. Nếu chúng tôi dâng của lễ gớm ghê trước mắt người Ê-díp-tô, họ há chẳng liệng đá chúng tôi sao?
26I aku la o Mose, Aole pono ke hana pela; no ka mea, e kaumaha auanei makou na Iehova ko makou Akua i ka mea hoopailua a ko Aigupita nei: a ina e kaumaha aku makou i ka mea hoopailua a ko Aigupita nei imua o ko lakou maka, aole anei lakou e hailuku mai ia makou i ka pohaku?
27Chúng tôi sẽ đi trong đồng vắng, chừng ba ngày đường, dâng tế lễ cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng tôi, y như lời Ngài sẽ chỉ bảo.
27E hele no makou i ekolu la hele iloko o ka waonahele, a e kaumaha aku na Iehova ko makou Akua, e like me kana e kauoha mai ai ia makou.
28Pha-ra-ôn bèn phán rằng: Ta sẽ tha các ngươi đi dâng tế lễ cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi, ở nơi đồng vắng, nhưng đừng đi xa hơn. Hãy cầu nguyện cho ta với!
28I mai la o Parao, E hookuu aku no wau ia oukou, i kaumaha aku ai oukou na Iehova ko oukou Akua, ma ka waonahele: aka, mai hele aku oukou i kahi mamao. E pule aku olua no'u.
29Môi-se tâu rằng: Nầy, tôi sẽ lui ra khỏi bệ hạ, cầu nguyện Đức Giê-hô-va cho; ngày mai ruồi mòng sẽ lìa xa Pha-ra-ôn, quần thần, và dân sự người. Nhưng xin Pha-ra-ôn chớ cứ gạt chúng tôi mà không tha dân sự đi dâng tế lễ cho Đức Giê-hô-va.
29I aku la o Mose, Aia hoi, ke hele aku nei au mai ou aku nei, a e nonoi aku au ia Iehova e lawe aku ia i na nalonahu mai o Parao aku, a mai kana poe kauwa aku, a mai kona poe kanaka aku; aia apopo. Aka, mai hoopunipuni hou mai o Parao. i ka hookuu ole i na kanaka e kaumaha aku na Iehova.
30Môi-se bèn lui ra khỏi Pha-ra-ôn, và cầu nguyện Đức Giê-hô-va;
30Hele aku la o Mose mai o Parao aku, a nonoi aku la ia Iehova.
31Ngài làm y như lời Môi-se, ruồi mòng lìa xa Pha-ra-ôn, quần thần, và dân sự người, không còn lại một con nào.
31Hana mai la o Iehova e like me ka olelo a Mose, a lawe aku la ia i na nalonahu mai o Parao aku, a mai kana poe kauwa aku, a mai kona poe kanaka aku; aole hookahi i koe.
32Nhưng lần nầy, Pha-ra-ôn lại cứng lòng nữa, không cho dân sự đi.
32Hoopaakiki hou iho la o Parao i kona naau ia manawa no hoi, aole i hookuu aku i na kanaka.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.