Sứ đồ 22
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Cornilescu Bible (1924), Cyrillic script
1Hỡi các anh các cha, hãy nghe điều tôi đang nói với để binh vực mình.
1„Фрацилор ши пэринцилор, аскултаць акум кувынтул меу де апэраре фацэ де вой!”
2Khi chúng nghe người nói tiếng Hê-bơ-rơ, thì càng chăm chỉ bội phần. Người bèn nói rằng:
2Кынд ау аузит ей кэ ле ворбеште ын лимба евреяскэ, ау цинут ши май мултэ линиште. Ши Павел а зис:
3Tôi là người Giu-đa, sanh tại thành Tạt-sơ, trong xứ Si-li-si, nhưng nuôi tại đây, trong thành nầy, học nơi chân Ga-ma-li-ên, đúng theo trong luật pháp của tổ phụ chúng ta. Vốn tôi đầy lòng sốt sắng vì Đức Chúa Trời, cũng như các ngươi hôm nay vậy.
3„Еу сунт иудеу, нэскут ын Тарсул Чиличией, дар ам фост крескут ын четатя ачаста, ам ынвэцат ла пичоареле луй Гамалиел сэ куноск ку де-амэнунтул Леӂя пэринцилор ноштри ши ам фост тот атыт де плин де рывнэ пентру Думнезеу, кум сунтець ши вой тоць азь.
4Tôi từng bắt bớ phe nầy cho đến chết, bất kỳ đàn ông đàn bà, đều xiềng lại và bỏ tù:
4Ам пригонит пынэ ла моарте ачастэ Кале, ам легат ши ам пус ын темницэ бэрбаць ши фемей:
5về điều đó, thầy cả thượng phẩm cùng cả hội đồng trưởng lão đều làm chứng cho tôi; vì bởi những người đó mà tôi nhận được các thơ gởi cho anh em thành Đa-mách, là nơi tôi toan đi, đặng bắt trói những người ở đó dẫn về thành Giê-ru-sa-lem để xử phạt.
5мареле преот ши тот соборул бэтрынилор ымь сунт марторь. Ам луат кяр ши скрисорь де ла ей кэтре фраций дин Дамаск, унде м-ам дус сэ адук легаць ла Иерусалим пе чей че се афлау аколо, ка сэ фие педепсиць.
6Vả, lúc tôi đang đi đường, gần đến thành Đa-mách, độ ban trưa, thình lình có ánh sáng lớn, từ trên trời giáng xuống, soi sáng chung quanh mình tôi.
6Кынд ерам пе друм ши мэ апропиям де Дамаск, деодатэ, пе ла амязэ, а стрэлучит ымпрежурул меу о маре луминэ дин чер.
7Tôi té xuống đất, và nghe có tiếng phán cùng tôi rằng: Hỡi Sau-lơ, Sau-lơ, làm sao ngươi bắt bớ ta?
7Ам кэзут ла пэмынт ши ам аузит ун глас каре-мь зичя: ‘Сауле, Сауле, пентру че Мэ пригонешть?’
8Tôi trả lời rằng: Lạy Chúa, Chúa là ai? Ngài phán: Ta là Jêsus ở Na-xa-rét mà ngươi đang bắt bớ đây.
8‘Чине ешть, Доамне?’, ам рэспунс еу. Ши Ел мь-а зис: ‘Еу сунт Исус дин Назарет, пе каре-Л пригонешть.’
9Những kẻ đi với tôi thấy ánh sáng rõ ràng, nhưng chẳng nghe tiếng của Đấng phán cùng tôi.
9Чей че ерау ку мине ау вэзут бине лумина ши с-ау ынфрикошат, дар н-ау аузит гласул Челуй че ворбя.
10Tôi bèn thưa: Lạy Chúa, tôi phải làm chi? Chúa đáp rằng: Hãy chờ dậy, đi đến thành Đa-mách, ở đó người ta sẽ nói mọi điều đã truyền cho ngươi làm.
10Атунч, ам зис: ‘Че сэ фак, Доамне?’ ‘Скоалэ-те’ , мь-а рэспунс Домнул, ‘ду-те ын Дамаск ши аколо ци се ва спуне че требуе сэ фачь.’
11Bởi cớ sự chói lói của ánh sáng đó, thì tôi chẳng thấy được, nên những kẻ cùng đi nắm tay dắt tôi đến thành Đa-mách.
11Фииндкэ ну путям сэ вэд нимик дин причина стрэлучирий луминий ачелея, чей че ерау ку мине м-ау луат де мынэ, ши аша ам ажунс ын Дамаск.
12Tên A-na-nia kia, là người nhân đức theo luật pháp, được các người Giu-đa trú tại Đa-mách đều làm chứng tốt, có đến tìm tôi;
12Ши а венит ла мине ун ом нумит Анания, бэрбат темэтор де Думнезеу, дупэ Леӂе, ши пе каре тоць иудеий каре локуеск ын Дамаск ыл ворбяу де бине.
13người đứng trước mặt tôi mà nói rằng: Hỡi Sau-lơ, anh tôi, hãy sáng mắt lại. Liền một lúc, tôi được sáng mắt, và xem thấy A-na-nia.
13Ел мь-а зис: ‘Фрате Сауле, капэтэ-ць дин ноу ведеря!’ Кяр ын клипа ачея, мь-ам кэпэтат ведеря ши м-ам уйтат ла ел.
14Đoạn, người nói với tôi rằng: Đức Chúa Trời của tổ phụ chúng ta đã định cho anh được biết ý muốn Chúa, được thấy Đấng Công bình và nghe lời nói từ miệng Ngài.
14Ел мь-а зис: ‘Думнезеул пэринцилор ноштри те-а алес сэ куношть воя Луй, сэ везь пе Чел Неприхэнит ши сэ аузь кувинте дин гура Луй;
15Vì anh sẽ làm chứng cho Ngài trước mặt mọi người, về những việc anh đã thấy và nghe.
15кэч Ый вей фи мартор фацэ де тоць оамений, пентру лукруриле пе каре ле-ай вэзут ши аузит.
16Bây giờ, anh còn trễ nải làm chi? Hãy chờ dậy, cầu khẩn danh Chúa mà chịu phép báp-tem và làm sạch tội lỗi mình đi.
16Ши акум, че зэбовешть? Скоалэ-те, примеште ботезул ши фий спэлат де пэкателе тале, кемынд Нумеле Домнулуй.’
17Đến lúc trở về thành Giê-ru-sa-lem, tôi đang cầu nguyện trong đền thờ, thì bị ngất trí;
17Ши ми с-а ынтымплат кэ, дупэ че м-ам ынторс ла Иерусалим, пе кынд мэ ругам ын Темплу, ам кэзут ынтр-о рэпире суфлетяскэ
18thấy Đức Chúa Jêsus phán cùng tôi rằng: Hãy vội vàng, lập tức ra khỏi thành Giê-ru-sa-lem; vì họ sẽ chẳng nhận lời ngươi làm chứng về ta đâu.
18ши ам вэзут пе Домнул, каре-мь зичя: ‘Грэбеште-те, ешь юте дин Иерусалим, кэч ну вор прими мэртурисиря та деспре Мине.’
19Tôi thưa rằng: Lạy Chúa, chính họ biết tôi từng bỏ tù những người tin Chúa và đánh đòn trong các nhà hội nữa.
19Ши ам зис: ‘Доамне, ей штиу кэ еу бэгам ын темницэ ши бэтям прин синагоӂь пе чей че кред ын Тине
20Lại khi Ê-tiên là kẻ làm chứng cho Chúa bị đổ máu, tôi ở đó đành lòng và giữ áo xống những kẻ giết người.
20ши кэ, атунч кынд се вэрса сынӂеле луй Штефан, марторул Тэу, ерам ши еу де фацэ, ымь уням ынкувиинцаря мя ку а челорлалць ши пэзям хайнеле челор че-л оморау.’
21Chúa bèn phán cùng tôi rằng: Hãy đi, vì ta toan sai ngươi đi đến cùng dân ngoại ở nơi xa...
21Атунч, Ел мь-а зис: ‘Ду-те, кэчте вой тримите департе, ла нямурь…’ ”
22Chúng chịu nghe người nói đến đó, song đến câu ấy, thì vùng kêu lên rằng: Hãy cất người dường ấy khỏi thế gian! Nó chẳng đáng sống đâu!
22Ей л-ау аскултат пынэ ла кувынтул ачеста. Дар атунч шь-ау ридикат гласул ши ау зис: „Я де пе пэмынт пе ун астфел де ом! Ну есте вредник сэ трэяскэ!”
23Chúng kêu la, cổi áo, hất bụi bay lên giữa khoảng không.
23Ши скотяу стригэте, ышь арункау хайнеле ши азвырляу ку цэрынэ ын вэздух.
24Quản cơ bèn truyền điệu người vào trong đồn, dùng roi mà tra người, để biết vì cớ gì chúng kêu la nghịch cùng người.
24Кэпитанул а порунчит сэ дукэ пе Павел ын четэцуе ши сэ-л черчетезе, бэтынду-л ку бичул, ка сэ афле дин че причинэ стригау аша ымпотрива луй.
25Họ đang căng người ra để đánh đòn, thì Phao-lô nói cùng thầy đội đang đứng đó rằng: Ngươi được phép đánh đòn một người quốc dân Rô-ma, mặc dầu người đó chưa thành án, hay sao?
25Пе кынд ыл легау ку куреле, Павел а зис суташулуй каре ера де фацэ: „Вэ есте ынгэдуит сэ батець пе ун роман каре ну есте осындит?”
26Vừa nghe mấy lời đó, thầy đội đi thưa cùng quản cơ rằng: Oâng toan làm chi? vì người nầy là quốc dân Rô-ma.
26Ла аузул ачестор кувинте, суташул с-а дус сэ дя де штире кэпитанулуй ши а зис: „Че ай де гынд сэ фачь? Омул ачеста есте четэцян роман.”
27Quản cơ đến, hỏi Phao-lô rằng: Hãy nói cho ta biết, ngươi có phải là quốc dân Rô-ma chăng? Người trả lời rằng: Phải.
27Ши кынд а венит кэпитанул, а зис луй Павел: „Спуне-мь, ешть роман?” „Да”, й-а рэспунс ел.
28Quản cơ lại nói: Ta đã mua được quyền lợi quốc dân đó cao giá lắm. Phao-lô nói: Còn phần tôi thì có quyền lợi đó từ lúc mới sinh ra rồi.
28Кэпитанул а зис: „Еу ку о маре сумэ де бань ам добындит четэцения ачаста.” „Ши еу”, а зис Павел, „сунт кяр нэскут роман.”
29Tức thì, những kẻ tra khảo người đều tránh xa ra; và khi quản cơ biết người mình đã biểu trói lại đó là quốc dân Rô-ma, thì sợ hãi.
29Нумайдекыт, чей че авяу сэ-л черчетезе прин бэтае ау ынчетат сэ-л май некэжяскэ, ба кэпитанул, кынд а афлат кэ Павел есте роман, с-а темут пентру кэ-л легасе.
30Hôm sau, quản cơ muốn biết cho đúng vì cớ nào Phao-lô bị người Giu-đa cáo, bèn sai mở trói, truyền cho các thầy tế lễ cả và cả tòa công luận nhóm lại, rồi dẫn Phao-lô ra, bắt đứng trước mặt họ.
30А доуа зи, фииндкэ воя сэ штие бине пентру че есте пырыт де иудей, л-а дезлегат ши а порунчит сэ се адуне лаолалтэ преоций чей май де сямэ ши тот соборул, апой а адус пе Павел жос ши л-а пус ынаинтя лор.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.