I Sam
Chapter 23
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Asang Khongca Bibl…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Người ta đến nói cùng Đa-vít rằng: Kìa, dân Phi-li-tin hãm đánh Kê-i-la, và cướp lấy các sân đạp lúa.
1Nihcae mah David khaeah, Khenah, Philistinnawk mah Keilah vangpui to tuk o moe, cang atithaih ahmuen doeh lomh pae o, tiah thuih pae o.
2Đa-vít cầu vấn Đức Giê-hô-va mà rằng: Tôi có nên đi đánh người Phi-li-tin nầy chăng? Đức Giê-hô-va đáp cùng Đa-vít rằng: Hãy đi, đánh người Phi-li-tin, và giải cứu Kê-i-la.
2To pongah David mah Angraeng khaeah, Hae Philistin kaminawk hae caeh moe, ka tuk han maw? tiah lokdueng. Angraeng mah David khaeah, Caeh ah, Philistin kaminawk to tuh loe, Keilah vangpui to pahlong ah, tiah a naa.
3Song những người theo Đa-vít nói rằng: Chính tại đây, trong xứ Giu-đa, chúng ta sợ hãi thay, phương chi đi đến Kê-i-la mà đánh quân lính Phi-li-tin!
3Toe David ih kaminawk mah anih khaeah, Khenah aicae loe Judah prae ah mataeng doeh zithaih hoiah ka oh o; Keilah vangpui ah caeh moe, Philistin misatuh kaminawk to a tuk o nahaeloe, kawkruk maw zii o tih, tiah a naa o.
4Đa-vít lại cầu vấn Đức Giê-hô-va nữa; Đức Giê-hô-va đáp cùng người rằng: Hãy chổi dậy, đi xuống Kê-i-la; ta sẽ phó dân Phi-li-tin vào tay ngươi.
4To pacoengah David mah Angraeng to lokdueng let bae; Angraeng mah anih khaeah, Angthawk loe, Keilah ah caeh tathuk ah; Philistin kaminawk to na ban ah kang paek han, tiah a naa.
5Vậy, Đa-vít đi cùng những kẻ theo mình đến Kê-i-la, đánh dân Phi-li-tin, làm cho chúng phải thua lớn. Aáy Đa-vít giải cứu dân Kê-i-la là như vậy.
5To pongah David hoi anih ih kaminawk loe Keilah ah caeh o moe, Philistinnawk to tuk o pacoengah, im ah pacah ih moinawk to lomh pae o. Philistin kami paroeai hum o moe, Keilah ah kaom kaminawk to pahlong o.
6Vả, khi A-bia-tha, con trai của A-hi-mê-léc, đi trốn đến cùng Đa-vít tại Kê-i-la, thì có đem theo cái ê-phót.
6Ahimelek capa Abiathar loe David khaeah Keilah ah cawnh naah, angmah ih khukbuen maeto hoiah ni angzoh.
7Người ta cho Sau-lơ hay rằng Đa-vít đã vào trong Kê-i-la. Sau-lơ nói: Đức Chúa Trời phó nó vào tay ta, bởi vì nó đã đi giam mình trong thành có cửa có then.
7David Keilah vangpui ah angzoh, tiah Saul mah thaih. To naah Saul mah, Sithaw mah anih to ka ban ah paek boeh, khongkha hoi takraenghaih thing kaom vangpui thungah akun boeh pongah, athung ah pa-ung caeng tih boeh, tiah a poek.
8Vậy, Sau-lơ chiêu hết thảy quân lính đặng đi xuống Kê-i-la, vây phủ Đa-vít và những kẻ theo người.
8To pongah Saul mah Keilah ah caeh tathuk moe, David hoi anih ih kaminawk to takui khoep hanah, angmah ih misatuh kaminawk boih to kawk.
9Nhưng Đa-vít biết rằng Sau-lơ toan mưu hại mình, thì nói cùng thầy tế lễ A-bia-tha rằng: hãy đem Ê-phót đến.
9Saul mah hum han pacaeng, tiah David mah panoek naah, qaima Abiathar khaeah, khukbuen to hae ah na sin ah, tiah a naa.
10Đoạn, người cầu rằng: Lạy Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, tôi tớ của Chúa có hay rằng Sau-lơ toan đi đến thành Kê-i-la, đặng phá thành vì cớ tôi.
10David mah, Aw Israel Angraeng Sithaw, kai pongah Saul mah Keilah vangpui phraek hanah angzoh boeh, tiah na tamna mah kahoih ah ka thaih.
11Các quan trưởng Kê-i-la sẽ nộp tôi vào tay Sau-lơ chăng? Sau-lơ sẽ đi xuống y như lời tôi tớ Chúa đã nghe nói chăng? Lạy Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, xin cho tôi tớ Chúa biết điều đó. Đức Giê-hô-va đáp: Sau-lơ sẽ đi xuống.
11Keilah vangpui ih kaminawk mah kai hae anih ban ah na paek o tih maw? To tih ai boeh loe na tamna mah thaih ih lok baktih toengah, Saul to angzo tathuk tih maw? Aw Israel Angraeng Sithaw, na tamna khaeah tahmenhaih hoiah na thui ah, tiah a naa. To naah Angraeng mah, Anih loe angzo tathuk tih, tiah a naa.
12Đa-vít lại hỏi rằng: Các quan trưởng Kê-i-la sẽ nộp tôi và những kẻ theo tôi vào tay Sau-lơ chăng? Đức Giê-hô-va đáp: Chúng nó sẽ nộp các ngươi.
12To naah David mah, Keilah ih kaminawk mah kai hoi kaimah ih kaminawk hae Saul ban ah paek o tih maw? tiah a dueng let bae. To naah Angraeng mah, nihcae mah nang to paek o tih, tiah a naa.
13Bấy giờ, Đa-vít và những kẻ theo mình, ước chừng sáu trăm người, đều đứng dậy đi ra khỏi Kê-i-la, và rút ở nơi nào được thì ở. Sau-lơ hay rằng Đa-vít đã thoát khỏi Kê-i-la, thì bỏ không kéo binh đi.
13To pongah David hoi angmah ih kami cumvai taruktonawk loe angthawk o moe, Keilah vangpui to tacawt o taak; nihcae loe a caeh o thaih karoek to caeh o; David loe Keilah vangpui hoiah loih ving boeh, tiah Saul mah thaih naah, angmah to loe caeh ai.
14Đa-vít ở trong đồng vắng, trên nơi cao hiểm hóc, tức là ở trên núi tại đồng vắng Xíp. Sau-lơ tìm kiếm người không ngớt; nhưng Đức Chúa Trời chẳng phó người vào tay Sau-lơ.
14David loe praezaek ih thlungkhaw thungah anghawk moe, Ziph praezaek mae thungah oh. Saul mah anih to ni thokkruek pakrong, toe Sithaw mah anih to Saul ban ah paek ai.
15Đa-vít thấy Sau-lơ đã kéo ra đặng hại mạng sống mình, thì ở lại trong rừng của đồng vắng Xíp.
15David Ziph praezaek taw thungah oh naah, Saul loe anih hinghaih lak hanah angzoh, tiah David mah panoek.
16Bấy giờ, Giô-na-than, con trai của Sau-lơ đứng dậy, đi đến cùng Đa-vít ở trong rừng, làm cho người vững lòng tin cậy nơi Đức Chúa Trời,
16Saul capa Jonathan loe taw thungah David khaeah caeh, Sithaw mah anih ih ban thacaksak.
17mà rằng: Chớ sợ chi, vì tay của Sau-lơ, cha tôi, sẽ chẳng đụng đến anh đâu. Anh sẽ làm vua Y-sơ-ra-ên, còn tôi sẽ làm tể tướng anh; Sau-lơ, cha tôi, cũng biết rõ điều đó.
17Anih khaeah, Zii hmah; kam pa Saul mah nang to hnu mak ai; nang loe Israel kaminawk nuiah siangpahrang ah na om ueloe, kai loe nang pacoengah hnetto haih ah ni ka om tih; hae hae kam pa Saul mah doeh panoek, tiah a naa.
18Hai người cùng lập giao ước tại trước mặt Đức Giê-hô-va; đoạn, Đa-vít ở lại trong rừng, còn Giô-na-than trở về nhà mình.
18Nihnik loe Angraeng hmaa ah lokkamhaih sak hoi; to pacoengah Jonathan loe angmah im ah amlaem, David loe taw thungah oh poe.
19Dân Xíp đi lên cùng Sau-lơ tại Ghi-bê-a, mà nói rằng: Đa-vít ẩn giữa chúng tôi, tại nơi đồn trong rừng, trên gò Ha-ki-la, ở về phía nam của đồng vắng.
19Ziph kaminawk loe Saul khaeah Gibeah ah caeh o moe, anih khaeah, David loe kaicae ohhaih Jeshimon vangpui aloih bangah kaom, Hakilah mae, taw thung ih thlungkhaw thungah na ai maw anghawk?
20Vậy, hỡi vua, hãy xuống, y theo lòng sở ước của vua; chúng tôi chịu lo nộp hắn vào tay vua.
20To pongah Aw siangpahrang, na koeh nahaeloe vaihi angzo tathuk ah, anih to siangpahrang ban ah paek thai hanah kang bomh o han, tiah a naa o.
21Sau-lơ đáp: Nguyện Đức Giê-hô-va ban phước cho các ngươi, vì các ngươi có lòng thương xót ta!
21Saul mah, Kai nang tahmen o pongah, Angraeng mah tahamhoihaih na paek o nasoe.
22Hãy đi hỏi thăm cho chắc hơn nữa đặng biết và xem xét chỗ hắn trú, và ai đã thấy hắn ở đó; vì người ta có nói rằng hắn rất khôn quỉ.
22Caeh oh loe, toksak hanah amsak oh; David loe naa ah maw anghawk, to ah anih hnu kami oh maw, tiah panoek hanah khen oh; anih loe aling kop parai, tiah ang thuih o.
23Vậy, hãy xem xét và biết mọi nơi hắn ẩn, đoạn trở về nói lại cùng ta cho chắc, thì ta sẽ đi cùng các ngươi. Nếu hắn ở trong xứ, thì ta sẽ tìm hắn trong hằng ngàn dân Giu-đa.
23To pongah anih anghawkhaih ahmuen to kahoih ah khet bit pacoengah, kai khaeah angzo o let ah, to naah nangcae hoi nawnto kang zoh han; anih prae thungah om nahaeloe, Judah acaengnawk thungah ka pakrong boih han, tiah a naa.
24Vậy, chúng trổi dậy, đi về Xíp trước Sau-lơ; còn Đa-vít và những kẻ theo người ở nơi đồng vắng Ma-ôn, tại A-ra-ba về phía nam Giê-si-môn.
24To pongah nihcae loe angthawk o moe, Saul hmaa ah Ziph taw ah caeh o; toe David loe Jeshimon aloih bang ih azawn ah kaom Moan, praezaek ah angmah ih kaminawk hoi nawnto oh o.
25Sau-lơ và những kẻ theo người đi tìm Đa-vít. Đa-vít hay được điều đó, bèn xuống hòn đá, và ở trong đồng vắng Ma-ôn. Sau-lơ hay được, bèn đuổi theo Đa-vít trong đồng vắng Ma-ôn.
25Saul hoi a taengah kaom kaminawk mah anih to pakrong o. To kawng to David khaeah thuih pae o; to naah anih loe lungsong ohhaih ahmuen ah caeh tathuk moe, Moan praezaek ah oh. Saul mah to lok to thaih naah, David patom hanah Moan praezaek ah a caeh.
26Sau-lơ đi sườn núi bên nầy, còn Đa-vít và bọn theo người đi sườn núi bên kia. Đa-vít vội vàng chạy trốn đặng thoát khỏi Sau-lơ. Nhưng lúc Sau-lơ và các đầy tớ bao phủ Đa-vít và bọn theo người đặng hãm bắt,
26Saul mae maeto bangah caeh naah, David hoi a taengah kaom kaminawk loe Saul khae hoiah karangah cawnh o moe, mae kalah maeto bangah oh o; Saul hoi anih ih misatuh kaminawk mah, David hoi a taengah kaom kaminawk to naeh hanah takui o khoep, to pongah David mah karangah amsak moe, Saul to cawnhtaak ving.
27thì có một sứ giả đến cùng Sau-lơ mà nói rằng: Hãy mau mau trở về, vì dân Phi-li-tin đã xâm phạm xứ ta.
27Toe Saul khaeah laicaeh maeto angzoh, Philistinnawk mah prae to tuk o boeh pongah, karangah angzo ah, tiah a naa.
28Vậy, Sau-lơ thôi đuổi theo Đa-vít, đi đánh dân Phi-li-tin. Bởi cớ ấy, người ta gọi chỗ nầy là Hòn Đá Phân rẽ.
28To naah Saul mah David to patom ai ah, Philistinnawk tuk hanah patom lat. To pongah to ahmuen to Sela-Hammahlekoth, tiah kawk o.
29(024-1) Đoạn, Đa-vít đi lên khỏi đó, ngụ tại trong đồn Eân-ghê-đi.
29David loe to ahmuen hoiah caeh moe, En-Gedi misa abuephaih ahmuen ah khosak.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.