I Sam
Chapter 13
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Asang Khongca Bibl…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Khi Sau-lơ lên ngôi vua, thì đã được bốn mươi tuổi. Người đã cai trị trên Y-sơ-ra-ên hai năm,
1Saul mah saningto uk moe, Israel kaminawk nuiah saning hnetto thung siangpahrang ah oh pacoengah,
2bèn chọn ba ngàn người Y-sơ-ra-ên: hai ngàn người đặng ở cùng mình tại Mích-ma và trên núi Bê-tên, còn một ngàn người thì ở với Giô-na-than tại Ghi-bê-a trong xứ Bên-gia-min. Dân sự còn lại, người cho về, ai nấy vào trong trại mình.
2Saul mah Israel kaminawk sang thumto qoih; kami sang hnetto loe angmah hoi nawnto Mikmash hoi Bethel mae nuiah oh o, kami sangto loe Benjamin prae Gibeah vangpui ah Jonathan hoi nawnto ohsak. Kanghmat kaminawk loe angmacae im ah patoeh boih.
3Giô-na-than đánh đồn Phi-li-tin ở tại Ghê-ba. Dân Phi-li-tin hay điều đó; Sau-lơ hạ lịnh thổi kèn khắp xứ, mà rằng: Dân Hê-bơ-rơ khá nghe biết!
3Jonathan mah Geba vangpui ah kaom Philistin kaminawk to tuk; to tamthang to Philistinnawk mah thaih o. Saul mah prae thung ih Hebru kaminawk boih tahngai oh, tiah mongkah to uengsak.
4Vậy, cả Y-sơ-ra-ên đều hay rằng Sau-lơ đã đánh đồn Phi-li-tin và Y-sơ-ra-ên bị dân Phi-li-tin ghen ghét. Bấy giờ, dân sự bị nhóm hiệp lại bên Sau-lơ tại Ghinh-ganh.
4Saul mah Philistinnawk to tuk pongah, Philistinnawk mah Israel kaminawk to panuet o ti, tiah Israel kaminawk mah thaih o naah, kaminawk nawnto amkhueng o moe, Saul abomh hanah Gilgal vangpui ah caeh o.
5Khi ấy, dân Phi-li-tin hiệp lại đặng đánh Y-sơ-ra-ên: chúng có ba vạn cỗ xe, sáu ngàn lính kỵ, và quân lính đông như cát trên bờ biển. Vậy, chúng nó đi lên, đóng trại tại Mích-ma, về hướng đông của Bết-A-ven.
5Philistinnawk loe Israel kaminawk tuk hanah hrang lakok sang quithumto, hrang angthueng kami sang tarukto maeto ah amkhueng o; misatuh kaminawk loe tuipui taeng ih savuet zetto pop o; nihcae loe caeh o tahang moe, Beth-Aven vangpui ni angyae bangah kaom, Mikmash vangpui ah atai o.
6Dân Y-sơ-ra-ên thấy mình nguy cấp vì bị chúng theo riết gần, bèn trốn ẩn trong hang đá, trong bụi bờ, trong gành đá, trong đồn lũy, và trong hầm hố.
6Israel kaminawk mah kaicae loe raihaih thungah ni ka oh o boeh, tiah panoek o naah (kaminawk loe poek angpho o), to pacoengah kaminawk loe thlungkhaw thungah, thing kathah thungah, lungsong thungah, hmuensang nui hoi tangqom khaw thungah anghawk o.
7Mấy người Hê-bơ-rơ sang qua sông Giô-đanh, đến xứ Gát và Ga-la-át. Song Sau-lơ còn ở lại tại Ghinh-ganh và hết thảy dân sự đi theo người đều run sợ.
7Thoemto Hebru kaminawk loe Jordan vapui angkat o moe, Gad hoi Gilead prae bangah caeh o. Saul loe Gilgal vangpui ah oh; kaminawk boih anih hnukah mawnhhaih hoiah bang o.
8Sau-lơ đợi bảy ngày, là k” của Sa-mu-ên đã định; song vì Sa-mu-ên không đến Ghinh-ganh, dân sự bèn tan đi.
8Samuel mah khaeh ih atue baktih toengah, Saul mah ni sarihto thung zing; toe Samuel Gilgal ah angzo ai pongah, Saul ih kaminawk loe anghaeh o phang.
9Bấy giờ, Sau-lơ nói: Hãy đem đến cho ta của lễ thiêu và của lễ thù ân; rồi người dâng của lễ thiêu.
9To pongah Saul mah, Hmai angbawnhaih hoi angdaeh angbawnhaih sak hanah hmuen to kai khaeah na sin oh, tiah a naa. Anih mah hmai angbawnhaih to sak.
10Khi người dâng xong, kìa Sa-mu-ên bèn đến. Sau-lơ đi ra đón đặng chào người.
10Anih mah hmai angbawnhaih sak pacoengah, Samuel to phak; Saul loe caeh moe, Samuel to dawt.
11Nhưng Sa-mu-ên hỏi: Ngươi đã làm chi? Sau-lơ đáp rằng: Khi tôi thấy dân sự tan đi, ông không đến theo ngày đã định, và dân Phi-li-tin đã hiệp lại tại Mích-ma,
11Samuel mah, Timaw na sak? tiah a naa. Saul mah, Kaminawk kai khae hoi anghaeh o phang boeh, nang loe na khaeh ih atue ah na pha ai, Philistinnawk doeh Mikmash vangpui ah atai o;
12thì tôi nói rằng: Dân Phi-li-tin chắc sẽ hãm đánh tôi tại Ghinh-ganh, và tôi chưa cầu khẩn Đức Giê-hô-va. Vì vậy, tôi miễn cưỡng dâng của lễ thiêu.
12Philistinnawk loe ka ohhaih Gilgal vangpui ah kai tuk hanah angzo o tih boeh; toe kai loe Angraeng khaeah ka hni ai vop bae hae, tiah ka poek pongah, ka tawt moe, hmai angbawnhaih ka sak halat boeh, tiah a naa.
13Sa-mu-ên nói cùng Sau-lơ rằng: Ngươi thật có làm ngu dại, không vâng theo mạng lịnh của Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi đã truyền cho. Ví bằng có vâng theo, thì Đức Giê-hô-va ắt đã lập nước ngươi vững đời đời nơi Y-sơ-ra-ên;
13Samuel mah, Amthuhaih hoiah hmuen hae na sak, na Angraeng Sithaw mah paek ih lok to na pazui ai; na pazui nahaeloe Israel nuiah siangpahrang ah na ohhaih to dungzan khoek to cak tih.
14nhưng bây giờ, nước ngươi sẽ không bền lâu. Đức Giê-hô-va đã chọn lấy cho mình một người theo lòng Ngài, đặt người ấy làm trưởng của dân sự Ngài, bởi vì ngươi không giữ theo mạng lịnh của Đức Giê-hô-va.
14Toe vaihi loe na prae hae cak poe mak ai boeh; Angraeng mah paek ih lok na pazui ai pongah, Angraeng mah angmah koeh ih kami to pakrong moe, angmah ih kaminawk zaehoikung to a qoih boeh, tiah a naa.
15Đoạn, Sa-mu-ên đứng dậy, đi từ Ghinh-ganh đến Ghi-bê-a trong xứ Bên-gia-min, rồi Sau-lơ kiểm điểm dân ở cùng mình: có ước chừng sáu trăm người.
15To naah Samuel to angthawk, Gilgal vangpui to tacawt taak moe, Benjamin prae Gibeah vangpui ah caeh tahang. Saul mah angmah hoi nawnto kaom kaminawk to kroek naah, cumvai tarukto ni oh o.
16Sau-lơ và Giô-na-than, con trai người, cùng quân lính đi theo, đều đóng tại Ghi-bê-a trong xứ Bên-gia-min, còn dân Phi-li-tin hạ trại tại Mích-ma.
16Philistin kaminawk Mikmash vangpui ah atai o naah, Saul hoi a capa Jonathan, anih taengah kaom kaminawk loe Benjamin prae Gibeah vangpui ah oh o.
17Từ trong dinh Phi-li-tin có một toán quân cướp phá đi ra, chia làm ba đội: đội này theo con đường Oùp-ra, đi về xứ Su-anh;
17To pacoengah kami muk thaih abu thumtonawk loe Philistinnawk ataihaih ahmuen hoiah tacawt o, abu maeto loe Shual prae Ophrah vangpui bangah caeh o;
18đội kia noi con đường Bết-hô-rôn; còn đội thứ ba theo con đường ranh nằm trên trũng Sê-bô-im, về hướng đồng vắng.
18kalah abu maeto loe Beth-Horon vangpui caehhaih loklam ah caeh o, thumto haih abu maeto loe praezaek caehhaih loklam ah kaom, Zeboim azawn ramri bangah caeh o.
19Vả, trong cả xứ Y-sơ-ra-ên không có thợ rèn, bởi vì dân Phi-li-tin đã nói rằng: Hãy cấm người Hê-bơ-rơ rèn gươm và giáo.
19Israel prae thung boihah sum daengh kop kami maeto doeh om ai vop, to pongah Philistine kaminawk mah, Hebru kaminawk mah tayae hoi sumsen sah o thaih moeng tih, tiah a mawnh o.
20Hết thảy Y-sơ-ra-ên ai nấy đều đi xuống nơi Phi-li-tin đặng mướn rèn lưỡi cày, cuốc, rìu, và lưỡi hái mình;
20To pongah Israel kaminawk loe, laikok toksak naah patoh ih sum, kalen taoi, tahmawh kamsum taoi hoi cakanawk to taak hanah, Philistinnawk khaeah caeh o tathuk.
21lại khi nào lưỡi cày, cuốc, chĩa ba, hay là rìu bị mẻ sứt, thì đi xuống đặng mài và sửa cái đót lại.
21To pacoengah laikok atokhaih hmuennawk, taoi, aha thumto kaom sumnawk, caka hoi tahmawh kamsum taoinawk to taak hanah, phoisa paek han angaih.
22Nên trong ngày tranh chiến chẳng có gươm cũng không có giáo nơi tay của cả dân sự đi theo Sau-lơ và Giô-na-than; chỉ có cho Sau-lơ và Giô-na-than, là con trai người, dùng mà thôi.
22To pongah misatukhaih niah, Saul hoi Jonathan ai ah loe, Saul taengah kaom kaminawk thungah mi doeh a ban ah haita hoi palaa sin kami om ai.
23Một đồn quân Phi-li-tin kéo ra đặng đón đèo Mích-ma.
23Thoemto Philistin kaminawk loe Mikmash vangpui to poeng hanah caeh o.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.