I Sam 17
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Dân Phi-li-tin nhóm hiệp các đạo binh mình đặng làm giặc, chúng nó hiệp tại Sô-cô, thuộc về xứ Giu-đa, và đóng trại tại Ê-phê-Đa-mim, giữa Sô-cô và A-xê-ca.
1To naah Philistin kaminawk loe misatuk hanah, Judah prae Sokoh vangpui ah amkhueng o; Sokoh hoi Azekah vangpui salak ih Ephes-Dammim ah ataihaih im to a sak o.
2Sau-lơ và người Y-sơ-ra-ên cũng nhóm hiệp, đóng trại tại trũng Ê-la, và dàn trận cùng dân Phi-li-tin.
2Saul hoi Israel kaminawk doeh nawnto amkhueng o toeng moe, Elah azawn ah atai o pacoengah, Philistin kaminawk hoi angtuk hanah angphaeng o.
3Dân Phi-li-tin đứng trên núi phía nầy, còn Y-sơ-ra-ên đứng trên núi phía kia; trũng phân cách họ.
3Philistinnawk loe ho bang ih mae ah oh o, Israel kaminawk doeh hae bang ih mae ah oh o, nihcae salakah azawn to oh.
4Bấy giờ, có một người lực sĩ từ trại quân Phi-li-tin mà ra, tên là Gô-li-át, quê ở Gát; bề cao người sáu thước một gang.
4Philistin kaminawk ataihaih ahmuen ah Gath acaeng Goliah, tiah ahmin kaom kami to oh; anih loe dong tarukto pacoeng kar to sang.
5Người đội mão đồng trên đầu, mặc áo giáp đồng vảy cá, nặng năm ngàn siếc-lơ,
5Anih loe sumkamling lumuek to angmuek moe, shekel sang pangato kazit sumkamling misa angvaenghaih aphaw to angkhuk.
6và những ủng đồng; sau lưng treo một cây lao đồng.
6A khok to sumkamling hoiah padap moe, a hnukbang ah sumkamling tayae to avak.
7Cán của cây lao hắn như cây trục của thợ dệt cửi, và mũi của cây lao nầy nặng sáu trăm siếc-lơ. Kẻ vác binh khí hắn đi trước hắn.
7Anih ih tayae haa loe caham haa baktiah ah noet; anih ih tayae loe shekel cumvai tarukto azit; anih ih aphaw sinkung loe anih hmaa ah caeh.
8Vậy, hắn ra đứng kêu la cùng đội ngũ Y-sơ-ra-ên rằng: Cớ sao các ngươi ra bày trận? Ta há chẳng phải là người Phi-li-tin, còn các ngươi, là tôi tớ của Sau-lơ sao? Hãy chọn một người trong các ngươi xuống đấu địch cùng ta.
8Goliath loe angdoet moe, Israel misatuh angraengnawk khaeah, Tipongah misatuk hanah nang zoh o loe? Kai loe Philistin kami ah ka oh, nangcae loe Saul ih tamna ah na ai maw na oh o? Kai hoi angtuk hanah kami maeto qoi oh, anih to kai khaeah angzo o sak tathuk ah.
9Nếu khi đấu địch cùng ta, hắn trổi hơn và giết ta, thì chúng ta sẽ làm tôi tớ các ngươi; nhưng nếu ta trổi hơn hắn và ta giết hắn, thì các ngươi sẽ làm tôi chúng ta, và hầu việc chúng ta.
9Anih mah kai tuh thaih moe, na hum nahaeloe, nangcae ih tamna ah ka oh o han; toe anih to ka pazawk moe, ka hum nahaeloe, nangcae doeh kaicae ih tamna ah om oh loe, kaicae ih tok to sah oh, tiah a naa.
10Người Phi-li-tin lại còn nói rằng: Phải, ngày nay ta thách lời nầy cho đội ngũ Y-sơ-ra-ên: Hãy khiến một người ra, đặng chúng ta đấu địch cùng nhau.
10Philistin kami mah, Vaihniah Israel misatuh angraengnawk hoi angtuk hanah ka kawk, kami maeto mah na patoeh oh, anih hoiah kang tuk hoi han, tiah a naa.
11Sau-lơ và cả Y-sơ-ra-ên nghe những lời của người Phi-li-tin, thì lấy làm hoảng hồn, sợ hãi lắm.
11Philistin kami ih lok to Saul hoi Israel kaminawk mah thaih o naah, palungboeng o moe, a zit o.
12Vả, Đa-vít, là con trai của Y-sai, người Ê-phơ-rát kia, quê ở Bết-lê-hem trong xứ Giu-đa, người có tám con trai; trong đời Sau-lơ, Y-sai đã cao tuổi rồi.
12Judah prae Bethlehem vangpui ah kaom, Ephrathah kami David ampa Jesse loe, capa tazetto sak; anih ih saningcoeh capa thumtonawk loe Saul ih misatuh kami ah oh o.
13Ba con trai cả của Y-sai đã theo Sau-lơ nơi chiến trận: tên ba con trai ấy là: con cả Ê-li-áp, con thứ nhì A-bi-na-đáp, và con thứ ba Sa-ma.
13Jesse capa kacoeh thumtonawk loe misa angtukhaih ahmuen ah Saul hnukah bang o; misatuk naah kacaeh anih capa thumtonawk loe, a calu Eliab, hnetto haih capa Abinadab hoi thumto haih capa Shammah cae hae ni.
14Đa-vít là con út. Khi ba anh người đã theo Sau-lơ,
14David loe capa asoi ah oh; a capa kacoeh thumtonawk loe Saul hnukah bang o.
15thì Đa-vít lìa nơi Sau-lơ, trở về Bết-lê-hem đặng chăn chiên của cha mình.
15Toe David loe Saul khae hoi Bethlehem ah ampa ih tuu toep hanah caeh.
16Người Phi-li-tin đi ra buổi mai và buổi chiều, tỏ mình ra như vậy trong bốn mươi ngày.
16Philistin kami mah ni quipalito thung, aduem akhawn tacawt moe, hang thuih.
17Vả, Y-sai nói cùng Đa-vít, con trai mình, mà rằng: Con hãy lấy một ê-pha hột rang và mười ổ bánh nầy, chạy mau đến trại quân đặng đem đưa cho các anh con.
17Jesse mah a caa David khaeah, Hae ah kaom daengh tangcae cang Ephah maeto hoi takaw kae hato sinh loe, namyanawk ataihaih ahmuen ah karangah thak paeh.
18Con cũng hãy đem mười bánh sữa nầy cho quan tướng cai ngàn quân, thử xem các anh con có mạnh chăng, và con phải đem về cho cha một dấu chi làm chứng về phần chúng nó.
18Maitaw tahnutui kamkhawk hato doeh misatuh sangto ukkung angraeng hanah sin paeh; namyanawk ngantui o maw, tiah khenah loe, nihcae ngantui o, tiah amtuenghaih hmuen maeto na sin ah.
19Các anh con ở cùng Sau-lơ và hết thảy người Y-sơ-ra-ên tại trong trũng Ê-la, để đánh giặc cùng dân Phi-li-tin.
19Namyanawk hoi Israel kaminawk loe, Saul khaeah oh o boih moe, Elah azawn ah Philistinawk tuk hanah atai o, tiah a naa.
20Ngày mai sáng sớm, Đa-vít để chiên cho một người chăn, lấy đồ vật mà đi, như Y-sai đã dặn người. Khi người đã đến đồn, thì đạo binh đi ra đặng dàn trận và reo tiếng chiến tranh.
20David loe khawnthaw ah angthawk moe, angmah ih tuunawk to tuutoep kami maeto khaeah aap, Jesse mah thuih ih lok baktih toengah, hmuenmaenawk to lak pacoengah, a caeh. Anih loe misatuh kaminawk misatuk han hang o li naah phak.
21Y-sơ-ra-ên và dân Phi-li-tin dàn trận, hai đạo quân đối nhau.
21Israel misatuh kaminawk hoi Philistin misatuh kaminawk loe maeto hoi maeto misa angtuk hanah amsak o.
22Đa-vít cất gánh nặng mình giao cho người giữ đồ vật, đoạn chạy đến chỗ dàn trận, tới hỏi thăm ba anh mình mạnh giỏi chăng.
22David loe angmah ih hmuennawk to hmuenmae pakuemkung khaeah caehtaak, misa angtukhaih ahmuen ah a cawnh moe, amyanawk to ban sinh.
23Người đang nói chuyện cùng chúng, kìa người lực sĩ Gô-li-át, tức là người Phi-li-tin ở Gát, từ hàng ngũ Phi-li-tin xơm tới, và Đa-vít nghe hắn nói như những lời ngày trước.
23Nihcae hoi lokthuih o li naah, khenah, Gath ah kaom Philistin kaminawk thungah thacak koek, Goliath, tiah ahmin kaom kami loe Philistin misatuh kaminawk hmaa ah tacawt moe, a thuih zong ih lok baktih toengah, kami hnaphaih hoiah hangh let bae; anih hanghaih lok to David mah thaih.
24Hết thảy người Y-sơ-ra-ên thấy người nầy, đều chạy trốn và run sợ lắm. Mọi người Y-sơ-ra-ên nói:
24Israel kaminawk mah to kami to hnuk o naah, paroeai zit o moe, cawnh o taak boih.
25Các ngươi có thấy người đó xơm tới chăng? Hắn đến đặng sỉ nhục Y-sơ-ra-ên. Nếu ai giết được hắn, thì vua sẽ ban thưởng nhiều của cải, gả con gái mình cho người đó, và miễn xâu thuế cho nhà cha người ấy trong Y-sơ-ra-ên.
25Israel kaminawk mah, Hmaa bangah angzo hae kami hae na hnuk o maw? Israel kaminawk hnaphnaehaih hoiah ni angzoh; anih hum thaih kami loe siangpahrang mah pop parai tangqum to paek tih; a canu doeh zu ah paek ueloe, ampa ih imthung takoh boih doeh Israel prae thungah tamut conghaih loisak tih, tiah a naa o.
26Đa-vít hỏi những người ở gần mình rằng: Người ta sẽ đãi thể nào cho kẻ giết được người Phi-li-tin nầy, và cất sự sỉ nhục khỏi Y-sơ-ra-ên? Vì người Phi-li-tin nầy, kẻ chẳng chịu phép cắt bì nầy, là ai, mà lại dám sỉ nhục đạo binh của Đức Chúa Trời hằng sống?
26To naah David mah anih taengah angdoe kaminawk khaeah, Aicae Israel kaminawk hnaphnae hae Philistin kami hum kami loe timaw hnu tih? Kahing Sithaw ih misatuh kaminawk hnaphnae, tangyat hin aat ai hae Philistin kami loe mi aa? tiah a naa.
27Người ta lấy lời thường nói ấy mà đáp cùng người rằng: Ai giết được hắn thì phần thưởng sẽ là như vậy.
27To naah kaminawk mah anih khaeah, Anih hum thaih kami loe, to tiah sah pae tih, tiah a naa o.
28Nhưng Ê-li-háp, anh cả người, nghe Đa-vít nói như vậy, nổi giận người mà nói rằng: Cớ sao mày đến đây? Mày bỏ ít con chiên của chúng ta trong đồng vắng cho ai? Tao biết tánh kiêu ngạo và sự độc ác của lòng mày. Aáy đặng xem tranh chiến nên mày mới đến.
28David loe kaminawk hoiah lok apaeh, tiah amya kacoeh koek Eliab mah hnuk naah, David nuiah palungphui moe, anih khaeah, Tih sak hanah hae ah nang zoh loe? Zetta kaom tuu to mi khaeah maw na caeh taak? Nam oekhaih hoi poeksethaih to ka panoek; misatuk khet hanih ni hae ah nang zoh tathuk, tiah a naa.
29Đa-vít đáp rằng: Vậy, tôi có làm chi đâu? Aáy chỉ là một câu hỏi thôi?
29David mah, Timaw ka sak pazae moeng boeh? Vaihi lok ka thui thai mak ai maw? tiah a naa.
30Người dan xa anh mình, lặp hỏi những người khác cũng một câu ấy, thì người ta đáp như lần thứ nhất.
30To pacoengah kami maeto khaeah angqoi moe, to hmuen kawng to a thui let bae; to ih kaminawk mah a thuih pae tangcae lok to a thuih pae o let.
31Có người nghe các lời Đa-vít nói, bèn thuật lại cho Sau-lơ hay; Sau-lơ đòi người đến.
31David mah thuih ih lok to nihcae mah thaih o naah, Saul khaeah thuih pae o; to pongah Saul mah anih to kawksak.
32Đa-vít thưa với Sau-lơ rằng: Xin chớ ai ngã lòng vì cớ người Phi-li-tin kia! Kẻ tôi tớ vua sẽ đi đấu địch cùng hắn.
32David mah Saul khaeah, Mi kawbaktih doeh hae Philistin kami pongah palugboeng hmah nasoe; na tamna kai ka caeh moe, anih to ka tuk han, tiah a naa.
33Sau-lơ đáp cùng Đa-vít rằng: Ngươi chẳng thế đi đấu địch cùng người Phi-li-tin kia, vì ngươi chỉ là một đứa con trẻ, còn hắn là một tay chiến sĩ từ thuở còn thơ.
33Saul mah David khaeah, To Philistin kami tuk hanah na caeh thai tang mak ai; nang loe saning na nawk vop; anih loe nawkta nathuem hoi kamtong misatuh zong kami ah oh boeh, tiah a naa.
34Đa-vít tâu cùng Sau-lơ rằng: Khi tôi tớ vua chăn chiên của cha mình, hễ có sư tử hay là con gấu đến tha một con chiên của bầy.
34Toe David mah Saul khaeah, Na tamna kai loe pa ih tuu to ka toep pae; to naah kaipui hoi taqomnawk angzoh o moe, tuu takha thung ih tuunawk to kaek o naah,
35thì tôi đuổi theo, đánh nó, rứt con chiên khỏi miệng nó; hễ nó cất lên cự tôi, tôi nắm râu nó, đánh và giết nó đi.
35a hnukah ka patom moe, ka hum pacoengah pakha thung ih tuu to ka pahlong; kai ang hmang naah, a sam ah ka naeh moe, ka boh pacoengah, ka hum.
36Tôi tớ vua đã đánh chết con sư tử và con gấu, vậy thì người Phi-li-tin không chịu phép cắt bì kia cũng sẽ đồng số phận với chúng nó; vì hắn đã sỉ nhục các đạo binh của Đức Chúa Trời hằng sống.
36Na tamna kai loe kaipui doeh, taqom doeh ka hum boeh; hae tangyat hin aat ai Philistin kami doeh, kahing Sithaw ih misatuh kaminawk to a hnaphnae pongah, to tiah ni om toeng tih.
37Đa-vít lại nói: Đức Giê-hô-va đã giải cứu tôi khỏi vấu sư tử và khỏi cẳng gấu, ắt sẽ giải cứu tôi khỏi tay người Phi-li-tin kia. Sau-lơ đáp rằng: Hãy đi, nguyện Đức Giê-hô-va ở cùng ngươi!
37Kaipui hoi taqom ban thung hoiah kai pahlongkung, Angraeng loe Philistin kaminawk ban thung hoiah doeh na pahlong let tih, tiah a naa. Saul mah David khaeah, To tiah nahaeloe, Caeh ah, na taengah Angraeng om nasoe, tiah a naa.
38Sau-lơ lấy áo chiến mình mặc cho Đa-vít, đội cái mão đồng lên đầu người, và mặc áo giáp cho người.
38To pacoengah Saul mah David to angmah ih misa angvaenghaih aphaw to angkhuksak; misatukhaih khok padaphaih to abuensak moe, sumkamling lumuek to angmueksak.
39Đa-vít đeo gươm của Sau-lơ ở trên áo chiến và tập đi thử, vì không có thói quen. Nhưng người nói cùng Sau-lơ rằng: Tôi không thế mang khí giới nầy mà đi được; vì tôi không có thói quen. Đa-vít bèn cổi áo ấy ra,
39David loe a khukbuen nuiah sumsen to pathlet; caeh han tha pathok, toe to baktih hmuennawk to angkhuk vai ai pongah hnaep ai. David mah Saul khaeah, Kang khuk zong ai pongah, ka caeh thai ai, tiah a naa. To pongah David mah aphaw to angkhring ving.
40cầm một cây gậy, lựa dưới khe năm cục đá bóng láng, để trong cái túi chăn chiên mình vẫn có, và cái trành ném đá ở nơi tay, rồi xơm tới người Phi-li-tin.
40A ban ah cunghet to sinh, vacong ih palang thlung pangato a khuih moe, tuu toep naah avak ih pasah thungah pacaeng; a ban ah ngazai to sinh moe, Philistin kami to a hmaang.
41Người Phi-li-tin cũng xơm tới, đến gần Đa-vít, có kẻ vác binh khí đi trước.
41To naah Philistin kami loe David khaeah anghnai aep aep, Philistin kami ih aphaw phawkung to anih hmaa ah a caehsak.
42Người Phi-li-tin xem Đa-vít, thấy người còn trẻ, nước da hồng hồng, mặt đẹp đẽ, thì khinh người.
42Philistin kami mah khet naah, David ih ngan loe amling hup moe, kranghoih, nawkta ah a hnuk pongah, anih to patoek.
43Người Phi-li-tin nói cùng Đa-vít rằng: Ta há là một con chó nên người cầm gậy đến cùng ta? Người Phi-li-tin bắt danh các thần mình mà rủa sả Đa-vít,
43David khaeah, Kai loe ui ah maw nang poek moe, cunghet hoiah nang hmaang loe? tiah a naa. Philistin kami mah David to angmah ih sithaw hmin hoiah tangoeng.
44và tiếp rằng: Hãy lại đây, ta sẽ ban thịt ngươi cho chim trời và thú đồng.
44Anih mah David khaeah, Hae ah angzo ah, na ngan to van ih tavanawk hoi taw ih moinawk khaeah ka paek han, tiah a naa.
45Đa-vít đáp cùng người Phi-li-tin rằng: Ngươi cầm gươm, giáo, lao mà đến cùng ta; còn ta, ta nhân danh Đức Giê-hô-va vạn binh mà đến, tức là Đức Chúa Trời của đạo binh Y-sơ-ra-ên, mà ngươi đã sỉ nhục.
45David mah Philistin kami khaeah, Kai tuk hanah sumsen, tayae, aphaw hoiah nang zoh; toe kai loe na patoek ih misatuh kaminawk ih Angraeng, Israel misatuh kaminawk ih Sithaw hmin hoiah ni nang tuk hanah kang zoh.
46Ngày nay Đức Giê-hô-va sẽ phó ngươi vào tay ta, ta sẽ giết ngươi, cắt đầu ngươi, và ngày nay ban thây của đạo binh Phi-li-tin cho chim trời và thú vật của đất.
46Vaihniah Angraeng mah nang hae ka ban ah paek tih; nang to kang hum moe, na tahnong to kang takroek pae pat han; vaihniah Philistin misatuh kaminawk ih qok to van ih tavaanawk hoi long ih moinawk khaeah ka paek han, to tiah ni Israel kaminawk khaeah Sithaw oh, tiah long pum mah panoek tih.
47Khắp thế gian sẽ biết rằng Y-sơ-ra-ên có một Đức Chúa Trời; và quân lính nầy sẽ thấy rằng Đức Giê-hô-va không giải cứu bằng gươm, hoặc bằng giáo; vì Đức Giê-hô-va là Chúa của chiến trận, và Ngài sẽ phó các ngươi vào tay chúng ta.
47Tayae hoi sumsen hoiah misatuh kami to Angraeng mah pahlong ai, tiah hae ah amkhueng kaminawk boih mah panoek o tih; misatukhaih loe Angraeng ih ni, to pongah anih mah nangcae boih kaicae ban ah paek tih, tiah a naa.
48Xảy khi người Phi-li-tin đứng dậy, xơm tới đón Đa-vít, Đa-vít vội vàng chạy về hướng hàng trận quân nghịch đặng đón người Phi-li-tin.
48Philistin kami mah David to naeh hanah angthawk moe, a taengah anghnai pae aep aep; to naah David mah Philistin kaminawk khaeah karangah cawnh.
49Đa-vít thò tay vào túi mình, lấy một cục đá, ném nó bằng trành, trúng nơi trán người Phi-li-tin. Cục đá lọt thấu trong trán, Gô-li-át té úp mặt xuống đất.
49Angmah ih pasah to tapawh tathuk moe, palang thlung maeto a lak pacoengah, Philistin kami to lu pataeh ah zai phaek; to naah anih to long ah cangku hmawk.
50Như vậy Đa-vít thắng được người Phi-li-tin bằng cái trành ném đá và cục đá, đánh chết hắn mà không có gươm nơi tay.
50David loe a ban ah sumsen to sin ai, Philistin kami to ngazai hoi palang thlung hoiah misatuk moe, pazawk.
51Đoạn, Đa-vít chạy lại, xông vào mình người Phi-li-tin, lấy gươm của hắn và rút ra khỏi vỏ, giết hắn, và cắt đầu đi. Dân Phi-li-tin thấy kẻ lực sĩ mình đã chết, thì chạy trốn.
51David loe cawnh moe, anih ih tak nuiah angdoet; Philistin kami ih sumsen to a suekhaih tabu thung hoiah aphongh moe, a hum pacoengah, anih ih tahnong to takroek pat. Angmacae thung ih thacak koek kami loe duek boeh, tiah Philistin kaminawk mah hnuk o naah, hnuk angnawn o moe, cawnh o.
52Bấy giờ, người Y-sơ-ra-ên và Giu-đa dấy lên, hò hét, đuổi theo dân Phi-li-tin cho đến cửa thành Gát và Eùc-rôn; người Phi-li-tin bị thương ngã chết đầy đường Sa-ra-gim cho đến Gát và Eùc-rôn.
52To pacoengah loe Israel hoi Judah kaminawk hmabang ah tacawt o moe, hanghaih hoiah Philistin kaminawk to azawn hoi Ekron khongkha khoek to patom o. Ahmaa kacaa kaminawk loe Sharaim vangpui, Gath vangpui hoi Ekron vangpui azawn caehhaih loklam khoek to a duek o.
53Dân Y-sơ-ra-ên, sau khi đã rượt đuổi dân Phi-li-tin rồi, thì trở về cướp phá trại quân chúng nó.
53Philistin kaminawk patomhaih ahmuen hoiah amlaem o naah, Israel kaminawk mah, nihcae ataihaih im to muk pae o.
54Đa-vít lấy thủ cấp của người Phi-li-tin đem đến Giê-ru-sa-lem; nhưng để binh khí Gô-li-át lại trong trại mình.
54David mah Philistin kami ih lu to lak moe, Jerusalem ah sinh; Philistin kami ih misatukhaih hmuen to angmah ih kahni im ah a suek.
55Sau-lơ thấy Đa-vít ra đón đánh người Phi-li-tin, thì có hỏi quan tổng binh Aùp-ne, rằng: Hỡi Aùp-ne, người trai trẻ đó là con trai của ai? Aùp-ne thưa rằng: Oâi vua! tôi xin chỉ linh hồn vua mà thề, tôi chẳng biết.
55David mah Philistin kaminawk tuk hanah hmaang, tiah Saul mah hnuk naah, misatuh ukkung angraeng Abner khaeah, Hae thendoeng loe mi ih capa maw? tiah a naa. Abner mah, Nang na hing baktih toengah, aw siangpahrang, ka thui thai ai, tiah a naa.
56Vua nói cùng người rằng: Hãy hỏi thăm gã trai trẻ ấy là con của ai.
56Siangpahrang mah, Mi ih capa maw, tiah panoek han dueng ah, tiah a naa.
57Khi Đa-vít đã giết người Phi-li-tin trở về, thì Aùp-ne rước người, dẫn đến trước mặt Sau-lơ. Đa-vít đang xách thủ cấp của người Phi-li-tin nơi tay.
57Philistin kami humhaih ahmuen hoiah David amlaem pacoengah, Abner mah anih to kawk moe, Saul khaeah caeh haih, to naah David mah Philistin kami ih lu to a ban ah sinh vop.
58Sau-lơ nói cùng người rằng: Hỡi gã trai trẻ, ngươi là con ai? Đa-vít thưa rằng: Tôi là con Y-sai, tôi tớ của vua, ở tại Bết-lê-hem.
58Saul mah, Thendoeng, nang loe mi ih capa aa? tiah a dueng. David mah, Kai loe Bethlehem vangpui ah kaom na tamna Jesse ih capa ni, tiah a naa.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.