I Sam 20
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Cornilescu Bible (1924), Cyrillic script
1Đa-vít trốn khỏi Na-giốt trong Ra-ma, đến cùng Giô-na-than, mà nói rằng: Tôi đã làm chi, tội ác tôi là gì? Tôi đã phạm tội chi cùng cha anh, mà người toan hại mạng sống tôi?
1Давид а фуӂит дин Наиот, де лынгэ Рама. С-а дус ла Ионатан ши а зис: „Че-ам фэкут еу? Каре есте нелеӂюиря мя, каре есте пэкатул меу ынаинтя татэлуй тэу, де вря сэ-мь я вяца?”
2Giô-na-than đáp cùng người rằng: Chẳng phải thế! anh không chết đâu. Cha tôi chẳng làm một sự gì, bất luận lớn hay nhỏ, mà chẳng nói trước với tôi. Vậy, nhân sao cha tôi giấu tôi sự nầy với tôi? Điều đó chẳng thể được.
2Ионатан й-а рэспунс: „Феряскэ Думнезеу! Ну вей мури. Татэл меу ну фаче ничун лукру, фие маре, фие мик, фэрэ сэ-мь дя де штире. Пентру че мь-ар аскунде ел лукрул ачеста? Ну есте нимик.”
3Nhưng Đa-vít lại thề nguyền mà rằng: Cha anh biết rõ rằng tôi được ơn trước mặt anh, nên có nói rằng: Chớ nên cho Giô-na-than biết gì, kẻo nó phải lo buồn chăng. Song ta chỉ Đức Giê-hô-va hằng sống và mạng sống của anh mà thề rằng, chỉ còn một bước cách tôi và sự chết mà thôi.
3Давид а зис ярэшь, журынд: „Татэл тэу штие бине кэ ам кэпэтат тречере ынаинтя та ши ва фи зис: ‘Сэ ну штие Ионатан, кэч с-ар ынтриста.’ Дар виу есте Домнул ши виу есте суфлетул тэу кэ ну есте декыт ун пас ынтре мине ши моарте.”
4Giô-na-than đáp cùng Đa-vít rằng: Hễ anh muốn tôi làm điều gì, thì ta sẽ làm cho anh.
4Ионатан а зис луй Давид: „Пентру тине вой фаче тот че вей вря.”
5Đa-vít tiếp rằng: Mai là ngày mồng một, tôi phải đi ngồi ăn chung bàn với vua. Hãy để cho tôi đi trốn trong đồng bằng cho đến chiều ngày thứ ba.
5Ши Давид й-а рэспунс: „Ятэ кэ мыне есте лунэ ноуэ ши ар требуи сэ шед сэ мэнынк ку ымпэратул; ласэ-мэ сэ мэ дук ши сэ мэ аскунд ын кымпий пынэ ын сяра зилей а трея.
6Nếu cha anh thấy tôi vắng mặt, thì hãy nói cùng người rằng: Đa-vít có cố nài xin tôi cho nó đi về Bết-lê-hem, quê hương nó, vì đó cả nhà nó dâng của lễ hằng năm.
6Дакэ татэл тэу ва бэга де сямэ липса мя, сэ-й спуй: ‘Давид м-а ругат сэ-л лас сэ се дукэ пынэ ла Бетлеем, ын четатя луй, пентру кэ аколо се адуче пентру тоатэ фамилия о жертфэ де песте ан.’
7Nếu người đáp: Tốt, thì kẻ tôi tớ anh sẽ được bình yên. Còn nếu người nổi giận, thì hãy biết rằng người định ý hại tôi.
7Ши дакэ ва зиче: ‘Бине!’ атунч робул тэу н-аре нимик де темут, дар, дакэ-л ва апука мыния, сэ штий кэ пеиря мя есте лукру хотэрыт дин партя луй.
8Vậy, hãy tỏ lòng nhân từ cho kẻ tôi tớ anh, bởi vì anh đã nhân danh Đức Giê-hô-va mà kết ước cùng kẻ tôi tớ anh. Song phần tôi ví có tội gì, xin chính anh hãy giết tôi đi; cớ sao anh lại dẫn tôi đến cha anh?
8Аратэ-ць дар драгостя пентру робул тэу, кэч ай фэкут ку робул тэу ун легэмынт ынаинтя Домнулуй. Ши дакэ есте врео нелеӂюире ын мине, я-мь ту вяца. Де че сэ мэ май дучь пынэ ла татэл тэу?”
9Giô-na-than đáp lại rằng: Chớ có nghĩ như vậy! Trái lại, nếu tôi biết thật cha tôi định ý hại anh, dễ nào tôi chẳng cho anh hay?
9Ионатан й-а зис: „Департе де тине гындул сэ ну-ць дау де штире дакэ вой афла кэ пеиря та есте лукру хотэрыт дин партя татэлуй меу ши аменинцэ сэ те ажунгэ!”
10Đa-vít đáp cùng Giô-na-than rằng: Nhưng nếu cha anh dùng lời nghiêm khắc đáp cùng anh, thì ai sẽ cho tôi hay?
10Давид а зис луй Ионатан: „Чине-мь ва да де штире дакэ татэл тэу ць-ар рэспунде ку асприме?”
11Giô-na-than đáp cùng Đa-vít rằng: Hè, chúng ta hãy ra ngoài đồng. Cả hai đều đi ra ngoài đồng.
11Ши Ионатан а зис луй Давид: „Вино, сэ ешим пе кымп.” Ши ау ешит амындой пе кымп.
12Giô-na-than nói cùng Đa-vít rằng: Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, làm chứng! Ngày mai hay là ngày mốt, tại giờ nầy, tôi sẽ dọ ý cha tôi. Nếu thấy chẳng có điều chi nên sợ cho anh, thì tôi không sai người nào đến cho anh hay biết;
12Ионатан а зис луй Давид: „Яу мартор пе Домнул Думнезеул луй Исраел кэ вой черчета де апроапе пе татэл меу мыне сау поймыне ши, де ва гынди бине де Давид,
13còn nếu cha tôi quyết lòng làm hại anh, tôi sẽ cho anh hay trước, biểu anh đi, và anh sẽ đi bình yên. Bằng chẳng, nguyện Đức Giê-hô-va phạt Giô-na-than cách nặng nề! Cầu xin Đức Giê-hô-va ở cùng anh, như Ngài đã ở cùng cha tôi!
13Домнул сэ Се поарте ку Ионатан ку тоатэ аспримя, дакэ ну вой тримите пе нимень сэ-ць дя де штире! Дакэ татэл меу ва гэси ку кале сэ-ць факэ рэу, ярэшь ыць вой да де штире ши те вой лэса сэ плечь, ка сэ те дучь ын паче, ши Домнул сэ фие ку тине кум а фост ку татэл меу!
14Và ngày sau, nếu tôi còn sống, có phải anh sẽ lấy sự nhân từ của Đức Giê-hô-va mà đãi tôi chăng? Nhưng nếu tôi chết,
14Дакэ вой май трэи, сэ те порць фацэ де мине ку о бунэтате ка а Домнулуй ши, дакэ вой мури,
15dẫu khi Đức Giê-hô-va diệt hết thảy kẻ thù nghịch của Đa-vít khỏi mặt đất cho đến cùng, thì cũng chớ cất ơn thương nhà tôi đến đời đời.
15сэ ну ыць ындепэртезь ничодатэ бунэтатя фацэ де каса мя, нич кяр кынд Домнул ва нимичи пе фиекаре дин врэжмаший луй Давид де пе фаца пэмынтулуй.
16Như vậy, Giô-na-than kết giao ước cùng nhà Đa-vít mà rằng: Đức Giê-hô-va sẽ báo thù những thù nghịch của Đa-vít.
16Кэч Ионатан а фэкут легэмынт ку каса луй Давид! Домнул сэ Се рэзбуне пе врэжмаший луй Давид!”
17Giô-na-than thương yêu Đa-vít như mạng sống mình vậy, nên khiến Đa-vít lại thề nữa.
17Ионатан а ынтэрит ши май мулт фацэ де Давид драгостя пе каре о авя пентру ел, кэч ыл юбя ка пе суфлетул луй.
18Giô-na-than tiếp rằng: Mai là ngày mồng một, sự vắng mặt anh người ta ắt sẽ thấy; vì chỗ anh sẽ trống.
18Ионатан й-а зис: „Мыне есте лунэ ноуэ; се ва бэга де сямэ липса та, кэч локул тэу ва фи гол.
19Ngày mốt, chớ quên đi xuống mau đến nơi anh đã ẩn ngày trước, là ngày định làm việc, và anh sẽ đợi gần bên hòn đá Ê-xe.
19Сэ те коборь а трея зи пынэ ын фундул локулуй ын каре те аскунсесешь ын зиуа кынд ку ынтымпларя ачея ши сэ рэмый лынгэ пятра Езел.
20Tôi sẽ bắn ba mũi tên về phía hòn đá đó dường như tôi bắn vào một cái bia.
20Еу вой траӂе трей сэӂець ынспре пятра ачаста, ка ши кынд аш лови ла цинтэ.
21Đoạn, tôi sẽ sai tôi tớ tôi, và bảo nó rằng: Hãy đi lượm các mũi tên. Nếu tôi nói với nó rằng: Kìa, các mũi tên ở bên nầy mầy, hãy lượm lấy đi, bấy giờ anh hãy đến; tôi chỉ Đức Giê-hô-va hằng sống mà thề, mọi việc đều bình an cho anh, chẳng có gì nên sợ hết!
21Ши вой тримите ун тынэр ши-й вой зиче: ‘Ду-те де гэсеште сэӂециле!’ Дакэ-й вой зиче: ‘Ятэ кэ сэӂециле сунт динкоаче де тине, я-ле!’ атунч сэ вий, кэч есте паче пентру тине ши н-ай сэ те темь де нимик, виу есте Домнул!
22Nhưng nếu tôi nói cùng đứa trẻ rằng: Kìa, các mũi tên ở bên kia mầy, bấy giờ anh khá đi, vì Đức Giê-hô-va khiến anh đi.
22Дар, дакэ вой зиче тынэрулуй: ‘Ятэ кэ сэӂециле сунт динколо де тине’, атунч сэ плечь, кэч Домнул те тримите.
23Còn về lời chúng ta đã nói nhau, nguyện Đức Giê-hô-va làm chứng giữa anh và tôi đến đời đời.
23Домнул есте мартор пе вечие пентру кувынтул пе каре ни л-ам дат унул алтуя.”
24Vậy, Đa-vít ẩn trong đồng. Khi đến ngày mồng một, vua ngồi bàn đặng ăn bữa;
24Давид с-а аскунс ын кымп. А венит луна ноуэ ши ымпэратул а луат лок ла оспэц ка сэ мэнынче.
25người ngồi nơi chỗ thường ngồi ở gần bên vách. Giô-na-than đứng dậy, và Aùp-ne ngồi bên Sau-lơ; còn chỗ của Đa-vít thì bỏ không.
25Ымпэратул а шезут ка де обичей пе скаунул луй, лынгэ перете. Ионатан с-а скулат ши Абнер а шезут лынгэ Саул, дар локул луй Давид а рэмас гол.
26Ngày đó, Sau-lơ chẳng nói chi hết, vì tưởng rằng: Có sự gì rủi ro đã xảy đến cho hắn rồi! Chắc hẳn hắn không sạch, đã phải sự gì ô uế rồi.
26Саул н-а зис нимик ын зиуа ачея, „кэч”, зичя ел, „с-а ынтымплат: ел ну есте курат, негрешит ну есте курат”.
27Song ngày sau, là ngày mồng hai, chỗ của Đa-vít lại bỏ không nữa. Sau-lơ nói cùng Giô-na-than, con trai mình, rằng: Cớ sao con trai của Y-sai không đến dự ăn bữa hôm qua và ngày nay?
27А доуа зи, зиуа а доуа а луний ной, локул луй Давид ера тот гол. Ши Саул а зис фиулуй сэу Ионатан: „Пентру че н-а венит фиул луй Исай ла масэ нич ерь, нич азь?”
28Giô-na-than thưa cùng Sau-lơ rằng: Đa-vít có nài xin phép tôi đi đến Bết-lê-hem,
28Ионатан а рэспунс луй Саул: „Давид мь-а черут вое сэ се дукэ ла Бетлеем.
29mà rằng: Xin để tôi đi; vì nhà chúng tôi có một sự tế tự trong thành, mà anh tôi đã dặn tôi phải đi đến. Vậy bây giờ, nếu tôi được ơn trước mặt người, xin cho phép tôi lập tức đi đến đó đặng thăm các anh tôi. Aáy bởi cớ đó người không đến ngồi bàn.
29Ел а зис: ‘Дэ-мь друмул, те рог, кэч авем ын четате о жертфэ де фамилие, ши фрате-меу мь-а спус лукрул ачеста, деч, дакэ ам кэпэтат тречере ынаинтя та, дэ-мь вое сэ мэ дук ын грабэ сэ-мь вэд фраций.’ Пентру ачея н-а венит ла маса ымпэратулуй.”
30Bấy giờ, Sau-lơ nổi giận cùng Giô-na-than, mà rằng: ù con trai gian tà và bội nghịch kia, ta biết mầy có kết bạn cùng con trai của Y-sai, đáng hổ nhục cho mầy, và đáng hổ nhục cho mẹ đã đẻ mầy thay!
30Атунч, Саул с-а апринс де мыние ымпотрива луй Ионатан ши й-а зис: „Фиу рэу ши неаскултэтор, ну штиу еу кэ ць-ай луат ка приетен пе фиул луй Исай, спре рушиня та ши спре рушиня мамей тале?
31Thật, hễ con trai Y-sai sống lâu trên mặt đất chừng nào, thì mầy và nước mầy chẳng vững bền chừng nấy. Vậy bây giờ, hãy sai đi kiếm nó, dẫn nó về cho ta; vì nó phải chết hẳn.
31Кэч, кытэ време ва трэи фиул луй Исай пе пэмынт, ну ва фи линиште нич пентру тине, нич пентру ымпэрэция та. Ши акум тримите сэ-л кауте ши сэ ми-л адукэ, фииндкэ есте вредник де моарте.”
32Giô-na-than thưa cùng Sau-lơ, cha mình, rằng: Cớ sao giết nó đi? Nó có làm điều gì?
32Ионатан а рэспунс татэлуй сэу, Саул, ши й-а зис: „Пентру че сэ фие оморыт? Че а фэкут?”
33Sau-lơ phóng cây giáo đặng đâm người; Giô-na-than bèn nhìn biết cha mình đã nhất định giết Đa-vít.
33Ши Саул шь-а ындрептат сулица спре ел, ка сэ-л ловяскэ. Ионатан а ынцелес кэ ера лукру хотэрыт дин партя татэлуй сэу сэ омоаре пе Давид.
34Giô-na-than bèn chổi dậy khỏi bàn, tức giận lắm, và trong ngày mồng hai chẳng ăn gì hết, lấy làm buồn bực về Đa-vít, vì cha mình đã sỉ nhục người.
34С-а скулат де ла масэ ынтр-о мыние апринсэ ши н-а луат делок парте ла масэ ын зиуа а доуа а луний ной, кэч ера мыхнит дин причина луй Давид, пентру кэ татэл сэу ыл окэрысе.
35Qua ngày sau, Giô-na-than đi ra ngoài đồng tại nơi đã hẹn cùng Đa-vít; có một đứa tôi tớ trẻ theo người.
35А доуа зи де диминяцэ, Ионатан с-а дус пе кымп ын локул ын каре се ынвоисе ку Давид ши ера ынсоцит де ун бэецаш.
36Người nói cùng nó rằng: Hãy chạy lượm những tên ta sẽ bắn. Kẻ tôi tớ chạy, Giô-na-than bắn một mũi tên qua khỏi nó.
36Ел й-а зис: „Дэ фуга ши гэсеште сэӂециле пе каре ле вой траӂе.” Бэятул а алергат, ши Ионатан а трас о сэӂятэ каре а трекут динколо де ел.
37Khi kẻ tôi tớ đi đến nơi có tên Giô-na-than đã bắn, thì Giô-na-than la lên rằng: Tên há chẳng ở bên kia mầy sao?
37Кынд а ажунс бэятул ла локул унде ера сэӂята пе каре о трэсесе Ионатан, Ионатан а стригат дупэ ел: „Ятэ кэ сэӂята есте динколо де тине.”
38Giô-na-than lại kêu kẻ tôi tớ rằng: Hãy đi mau, chớ dừng lại! Kẻ tôi tớ lượm mũi tên, rồi trở lại cùng chủ mình.
38Й-а стригат ярэшь: „Юте, грэбеште-те, ну те опри!” Ши бэятул луй Ионатан а стрынс сэӂециле ши с-а ынторс ла стэпынул луй.
39Vả, tôi tớ chẳng biết chi cả, song Đa-vít và Giô-na-than hiểu biết điều đó là gì.
39Бэятул ну штия нимик: нумай Ионатан ши Давид ынцелеӂяу лукрул ачеста.
40Giô-na-than trao binh khí cho tôi tớ mình, và bảo rằng: Hãy đi, đem nó về trong thành.
40Ионатан а дат бэятулуй армеле ши й-а зис: „Ду-те ши ду-ле ын четате.”
41Khi tôi tớ đã đi rồi, Đa-vít chổi dậy từ phía nam, sấp mình xuống đất và lạy ba lần, đoạn hai người ôm nhau và khóc, Đa-vít khóc nhiều hơn.
41Дупэ плекаря бэятулуй, Давид с-а скулат дин партя де мязэзи, апой с-а арункат ку фаца ла пэмынт ши с-а ынкинат де трей орь. Чей дой приетень с-ау ымбрэцишат ши ау плынс ымпреунэ. Давид май алес се прэпэдя плынгынд.
42Giô-na-than nói cùng Đa-vít rằng: Anh hãy đi bình an; chúng ta đã nhân danh Đức Giê-hô-va lập lời thề cùng nhau rằng: Đức Giê-hô-va sẽ làm chứng giữa tôi và anh, giữa dòng dõi tôi và dòng dõi anh đến đời đời. 20-43 Vậy, Đa-vít chổi dậy và đi, còn Giô-na-than trở vào trong thành.
42Ши Ионатан а зис луй Давид: „Ду-те ын паче, акум кынд ам журат амындой ын Нумеле Домнулуй, зикынд: ‘Домнул сэ фие пе вечие ынтре мине ши тине, ынтре сэмынца мя ши сэмынца та!’” Давид с-а скулат ши а плекат, яр Ионатан с-а ынторс ын четате.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.