I Gi
Chapter 3

I Gi

Vietnamese Bible (1923 t…
vs Asang Khongca Bibl…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Hãy xem Đức Chúa Cha đã tỏ cho chúng ta sự yêu thương dường nào, mà cho chúng ta được xưng là con cái Đức Chúa Trời; và chúng ta thật là con cái Ngài. Aáy là vì đó mà thế gian chẳng biết chúng ta, vì họ chẳng từng biết Ngài.
1Aicae loe Sithaw caa ah a oh o, tiah kawk thai hanah, Sithaw loe kawbaktih amlunghaih maw aicae nuiah tawnh, tito khen oh: long mah Anih panoek ai pongah, aicae doeh panoek ai.
2Hỡi kẻ rất yêu dấu, chính lúc bây giờ chúng ta là con cái Đức Chúa Trời, còn về sự chúng ta sẽ ra thể nào, thì điều đó chưa được bày tỏ. Chúng ta biết rằng khi Ngài hiện đến, chúng ta sẽ giống như Ngài, vì sẽ thấy Ngài như vốn có thật vậy.
2Palung ih kaminawk, aicae loe vaihi Sithaw caa ah ni a oh o boeh, hmabang ah kawbaktih kami ah maw a om o tih, tito amtueng ai vop: toe anih amtueng naah aicae loe Anih baktiah a om o tih, tito a panoek o; Anih to angmah baktih toengah a hnu o tih.
3Ai có sự trông cậy đó trong lòng, thì tự mình làm nên thanh sạch, cũng như Ngài là thanh sạch.
3Anih ah oephaih tawn kami loe, Anih ciimcai baktih toengah, angmah hoi angmah to ciimcai ah khosak.
4Còn ai phạm tội tức là trái luật pháp; và sự tội lỗi tức là sự trái luật pháp.
4Mi kawbaktih doeh zaehaih sah kami loe kaalok doeh a aek: zae, tiah thuih ih lok loe kaalok aekhaih hae ni.
5Vả, các con biết Đức Chúa Jêsus Christ đã hiện ra để cất tội lỗi đi, và biết trong Ngài không có tội lỗi.
5Toe anih loe aicae zaehaihnawk lak ving han ih ni amtueng, tito na panoek o; anih ah zaehaih om ai.
6Ai ở trong Ngài thì không phạm tội; còn ai phạm tội, thì chẳng từng thấy Ngài và chẳng từng biết Ngài.
6Mi kawbaktih doeh anih ah om kami loe zaehaih sah ai: zaehaih sah kami loe anih to hnu ai, panoek doeh panoek ai.
7Hỡi các con cái bé mọn, chớ để cho ai lừa dối mình: kẻ làm sự công bình là người công bình, như chính mình Chúa là công bình.
7Palung ih nawktanawk, mi mah doeh na ling o hmah nasoe: anih loe toeng baktih toengah, katoeng kami mah loe katoeng hmuen to sak.
8Kẻ nào phạm tội là thuộc về ma quỉ; vì ma quỉ phạm tội từ lúc ban đầu. Vả, Con Đức Chúa Trời đã hiện ra để hủy phá công việc của ma quỉ.
8Zaehaih sah kami loe taqawk ih kami ah ni oh; taqawk loe tangsuek natuem hoi boeh ni zaehaih to a sak. Sithaw Capa loe taqawk toksakhaihnawk to phraek han ih ni angzoh.
9Ai sanh bởi Đức Chúa Trời, thì chẳng phạm tội, vì hột giống của Đức Chúa Trời ở trong người, và người không thể phạm tội được, vì đã sanh bởi Đức Chúa Trời.
9Sithaw mah tapen ih kami loe zaehaih sah ai; anih ih atii loe Sithaw ah oh poe: Sithaw mah tapen ih kami ah oh pongah, anih loe zae thai ai.
10Bởi đó, người ta nhận biết con cái Đức Chúa Trời và con cái ma quỉ: ai chẳng làm điều công bình là không thuộc về Đức Chúa Trời, kẻ chẳng yêu anh em mình cũng vậy.
10Hae tiah Sithaw caa hoi taqawk caa to angmaat thaih: toenghaih sah ai kami, angmah ih amnawk palung ai kami loe Sithaw ih kami na ai ni.
11Vả, lời rao truyền mà các con đã nghe từ lúc ban đầu, ấy là chúng ta phải yêu thương lẫn nhau.
11Aicae maeto hoi maeto amlung han oh, tiah thuih ih lok loe, tangsuek nathuem hoi na thaih o hmaloe ih lok ah oh.
12Chớ làm như Ca-in, là kẻ thuộc về ma quỉ, đã giết em mình. Vì sao người giết đi? Bởi việc làm của người là dữ, còn việc làm của em người là công bình.
12Kasae poekhaih katawn, amnawk kahum, Kain baktiah om o hmah. Tipongah anih mah angmah ih amnawk to hum? tiah thuih nahaeloe, anih mah sak ih hmuen loe toeng ai, amnawk mah sak ih hmuen to toeng pongah ni.
13Hỡi anh em, nếu thế gian ghen ghét anh em, thì chớ lấy làm lạ.
13Nawkamyanawk, long mah na hnuma o nahaeloe, dawnrai o hmah.
14Chúng ta biết rằng mình đã vượt khỏi sự chết qua sự sống, vì chúng ta yêu anh em mình. Còn ai chẳng yêu thì ở trong sự chết.
14Nawkamyanawk to a palung o pongah aicae loe duekhaih thung hoiah a poeng o boeh moe, hinghaih thungah akun o boeh. Amnawk palung ai kami loe duekhaih thungah ni oh vop.
15Ai ghét anh em mình, là kẻ giết người; anh em biết rằng chẳng một kẻ nào giết người có sự sống đời đời ở trong mình.
15Nawkamya hnuma kami loe kami hum kami ah ni oh: kami hum kami loe dungzan hinghaih tawn ai, tito na panoek o.
16Bởi đó chúng ta nhận biết lòng yêu thương, ấy là Chúa đã vì chúng ta bỏ sự sống; chúng ta cũng nên bỏ sự sống vì anh em mình vậy.
16Aicae han a hinghaih paek pongah, aicae mah Sithaw amlunghaih to a panoek o: aicae mah doeh nawkamyanawk hanah aimacae hinghaih paek toeng han oh.
17Nếu ai có của cải đời nầy, thấy anh em mình đang cùng túng mà chặt dạ, thì lòng yêu mến Đức Chúa Trời thể nào ở trong người ấy được!
17Mi kawbaktih doeh hae long nuiah kahoih hmuennawk to tawnh mangh, nawkamya vawthaih doeh a hnuk e, anih nuiah tahmenhaih tawn ai nahaeloe, kawbangmaw Sithaw amlunghaih anih thungah om tih?
18Hỡi các con cái bé mọn, chớ yêu mến bằng lời nói và lưỡi, nhưng bằng việc làm và lẽ thật.
18Nawktanawk, lok hoiah maw, palai hoiah maw amlung o hmah si; loktang hoi toksakhaih hoiah amlung o si.
19Bởi đó, chúng ta biết mình là thuộc về lẽ thật, và giục lòng vững chắc ở trước mặt Ngài.
19To tiah amlunghaih rang hoiah aicae loe loktang ih kami ah a oh o, tito amtueng, to pongah aicae loe Anih hmaa ah kamongah om tih.
20Vì nếu lòng mình cáo trách mình, thì Đức Chúa Trời lại lớn hơn lòng mình nữa, và biết cả mọi sự.
20Aimacae ih palung mah aicae zaehaih net cadoeh, Sithaw loe aicae ih palung pongah len kue, anih mah hmuennawk to panoek boih.
21Hỡi kẻ rất yêu dấu, ví bằng lòng mình không cáo trách, thì chúng ta có lòng rất dạn dĩ, đặng đến gần Đức Chúa Trời:
21Palung ih kaminawk, aimacae ih palung mah aicae zaehaih net ai nahaeloe, oephaih hoiah Sithaw khaeah a caeh o han oh.
22và chúng ta xin điều gì mặc dầu, thì nhận được điều ấy, bởi chúng ta vâng giữ các điều răn của Ngài và làm những điều đẹp ý Ngài.
22Anih mah thuih ih loknawk to a pazui o moe, a koeh ih hmuennawk to a sak o pongah, anih khae hoiah a hnik o ih hmuennawk to a hnuk o boih.
23Vả, nầy là điều răn của Ngài: là chúng ta phải tin đến danh Con Ngài, tức là Đức Chúa Jêsus Christ, và chúng ta phải yêu mến lẫn nhau như Ngài đã truyền dạy ta.
23Aicae han kaalok ang paek baktih toengah, aicae mah a Capa Jesu Kri ih ahmin to tang moe, maeto hoi maeto amlung han oh, hae loe anih mah paek ih kaalok ah oh.
24Ai vâng giữ các điều răn Ngài thì ở trong Đức Chúa Trời, và Đức Chúa Trời ở trong người ấy; chúng ta biết Ngài ở trong lòng chúng ta, là nhờ Đức Thánh Linh mà Ngài đã ban cho chúng ta.
24Anih mah paek ih kaalok tahngai kami loe Anih thungah oh, Anih doeh to kami thungah oh toeng. Anih mah aicae han paek ih Muithla rang hoiah ni Anih aicae thungah oh, tiah a panoek o.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.