I Gi 3
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
1Hãy xem Đức Chúa Cha đã tỏ cho chúng ta sự yêu thương dường nào, mà cho chúng ta được xưng là con cái Đức Chúa Trời; và chúng ta thật là con cái Ngài. Aáy là vì đó mà thế gian chẳng biết chúng ta, vì họ chẳng từng biết Ngài.
1EIA hoi, manomano ke aloha a ka Makua i haawi mai ai ia kakou, i kapaia mai ai kakou he poe keiki na ke Akua; no ia mea, aole i ike mai ko ke ao nei ia kakou, no ka mea, aole lakou i ike ia ia.
2Hỡi kẻ rất yêu dấu, chính lúc bây giờ chúng ta là con cái Đức Chúa Trời, còn về sự chúng ta sẽ ra thể nào, thì điều đó chưa được bày tỏ. Chúng ta biết rằng khi Ngài hiện đến, chúng ta sẽ giống như Ngài, vì sẽ thấy Ngài như vốn có thật vậy.
2E na punahele, ano la, he poe keiki kakou na ke Akua, aka, o ko kakou ano mahope aku, aole ikea ia; aka, ke ike nei kakou, a i kona wa e ikea mai ai, e like auanei kakou me ia: no ka mea, e ike kakou ia ia ma kona ano maoli.
3Ai có sự trông cậy đó trong lòng, thì tự mình làm nên thanh sạch, cũng như Ngài là thanh sạch.
3O ka mea i loaa ia ia keia manaolana ma ona la, oia ke hoomaemae ia ia iho e like me ko ia la maemae ana.
4Còn ai phạm tội tức là trái luật pháp; và sự tội lỗi tức là sự trái luật pháp.
4O ka mea e hana aku ana i ka hewa, oia ka mea e haihai ana i ke kanawai; a o ka hewa, oia no ke ku e ana i ke kanawai.
5Vả, các con biết Đức Chúa Jêsus Christ đã hiện ra để cất tội lỗi đi, và biết trong Ngài không có tội lỗi.
5Ua ike no oukou, ua hoikea mai oia, i lawe ae ia i ko kakou hewa: aole hewa iloko ona.
6Ai ở trong Ngài thì không phạm tội; còn ai phạm tội, thì chẳng từng thấy Ngài và chẳng từng biết Ngài.
6O ka mea e noho ana iloko ona, aole ia e hana hewa. O ka mea e hana i ka hewa, aole ia i nana ae ia ia, aole no hoi i ike ia ia.
7Hỡi các con cái bé mọn, chớ để cho ai lừa dối mình: kẻ làm sự công bình là người công bình, như chính mình Chúa là công bình.
7E na pokii, e malama i hoopunipuni ole kekahi ia oukou: o ka mea i hana i ka pono, oia ka i pono, e like me ko ia la pono ana.
8Kẻ nào phạm tội là thuộc về ma quỉ; vì ma quỉ phạm tội từ lúc ban đầu. Vả, Con Đức Chúa Trời đã hiện ra để hủy phá công việc của ma quỉ.
8O ka mea e hana ana i ka hewa, no ka diabolo no ia; no ka mea, ua hana hewa mau ka diabolo, mai kinohi mai. No ia mea, ua hoikea mai ke Keiki a ke Akua, i hokae aku ai oia i ka ka diabolo hana ana.
9Ai sanh bởi Đức Chúa Trời, thì chẳng phạm tội, vì hột giống của Đức Chúa Trời ở trong người, và người không thể phạm tội được, vì đã sanh bởi Đức Chúa Trời.
9O ka mea i hoohanauia mai e ke Akua, aole ia e hana hewa; no ka mea, ke noho mau nei kona hua iloko ona; aole e hiki ia ia ke hana hewa aku, no ka mea, ua hoohanauia mai no ia e ke Akua.
10Bởi đó, người ta nhận biết con cái Đức Chúa Trời và con cái ma quỉ: ai chẳng làm điều công bình là không thuộc về Đức Chúa Trời, kẻ chẳng yêu anh em mình cũng vậy.
10Malaila no i maopopo ai nakeiki a ke Akua, a me ka poe keiki na ka diabolo. O ka mea hana ole ma ka pono, aole ia na ke Akua, aole hoi ka mea aloha ole i kona hoahanau.
11Vả, lời rao truyền mà các con đã nghe từ lúc ban đầu, ấy là chúng ta phải yêu thương lẫn nhau.
11No ka mea, eia no ka olelo a oukou i lohe ai mai kinohi mai, e aloha aku kakou i kekahi i kekahi.
12Chớ làm như Ca-in, là kẻ thuộc về ma quỉ, đã giết em mình. Vì sao người giết đi? Bởi việc làm của người là dữ, còn việc làm của em người là công bình.
12Aole like me Kaina, na ka mea ino no oia, a pepehi iho la ia i kona kaikaina a make. No ke aha la kela i pepehi ai ia ia? no ka mea, ua hewa kana hana iho, a na pono hoi ka kona kaikaina.
13Hỡi anh em, nếu thế gian ghen ghét anh em, thì chớ lấy làm lạ.
13Mai kahaha oukou, e na hoahanau o'u, ke hoomaau mai ko ke ao nei ia oukou.
14Chúng ta biết rằng mình đã vượt khỏi sự chết qua sự sống, vì chúng ta yêu anh em mình. Còn ai chẳng yêu thì ở trong sự chết.
14Ke ike nei kakou, ua lilo ae kakou mai ka make ae i ke ola, no ka mea, ke aloha aku nei kakou i na hoahanau, O ka mea e aloha ole ana i kona hoahauau, ke noho nei oia ma ka make.
15Ai ghét anh em mình, là kẻ giết người; anh em biết rằng chẳng một kẻ nào giết người có sự sống đời đời ở trong mình.
15O ka mea e hoomaau ana i kona hoahanau, he mea pepehi kanaka ia: ua ike no oukou o ka mea pepehi kanaka, aole ke ola mau loa e noho ana iloko ona.
16Bởi đó chúng ta nhận biết lòng yêu thương, ấy là Chúa đã vì chúng ta bỏ sự sống; chúng ta cũng nên bỏ sự sống vì anh em mình vậy.
16No ia mea, ua ike kakou i ke aloha, no ka mea, ua waiho iho la oia i kona ola no kakou; a he mea pono no hoi ia kakou, ke waiho ae i ko kakou ola no ka poe hoahanau.
17Nếu ai có của cải đời nầy, thấy anh em mình đang cùng túng mà chặt dạ, thì lòng yêu mến Đức Chúa Trời thể nào ở trong người ấy được!
17O ka mea i loaa ia ia ka waiwai o keia ao, a ike ae la i ka nele o kona hoahanau, a papani ae i kona naau ia ia, pehea la ke aloha o ke Akua e noho ai iloko ona?
18Hỡi các con cái bé mọn, chớ yêu mến bằng lời nói và lưỡi, nhưng bằng việc làm và lẽ thật.
18E na pokii o'u, mai aloha kakou ma ka waha, aole hoi ma ke alelo wale no; aka, ma ka hana ana a me ka oiaio.
19Bởi đó, chúng ta biết mình là thuộc về lẽ thật, và giục lòng vững chắc ở trước mặt Ngài.
19Ma keia mea e ike ai kakou, no ka oiaio kakou, a e hooiaio aku kakou i ko kakou mau naau imua ona.
20Vì nếu lòng mình cáo trách mình, thì Đức Chúa Trời lại lớn hơn lòng mình nữa, và biết cả mọi sự.
20No ka mea, ina e hoohewa mai ko kakou naau ia kakou iho, ua oi aku ke Akua i ko kakou naau, a ua ike oia i na mea a pau.
21Hỡi kẻ rất yêu dấu, ví bằng lòng mình không cáo trách, thì chúng ta có lòng rất dạn dĩ, đặng đến gần Đức Chúa Trời:
21E na punahele, ina e hoohewa ole mai ko kakou naau ia kakou iho, alaila ua loaa ia kakou ka wiwo ole imua o ke Akua.
22và chúng ta xin điều gì mặc dầu, thì nhận được điều ấy, bởi chúng ta vâng giữ các điều răn của Ngài và làm những điều đẹp ý Ngài.
22O ka mea a kakou e noi aku ai, e loaa no ia kakou nona mai, no ka mea, ke malama nei kakou i kana mau kauoha, a ke hana nei no hoi kakou imua ona i kona mea e makemake ai.
23Vả, nầy là điều răn của Ngài: là chúng ta phải tin đến danh Con Ngài, tức là Đức Chúa Jêsus Christ, và chúng ta phải yêu mến lẫn nhau như Ngài đã truyền dạy ta.
23Eia no kana kauoha mai, e manaoio aku kakou i ka inoa o kana Keiki o Iesu Kristo, a e aloha kekahi i kekahi, e like me ke kauoha ana i haawi mai ai ia kakou.
24Ai vâng giữ các điều răn Ngài thì ở trong Đức Chúa Trời, và Đức Chúa Trời ở trong người ấy; chúng ta biết Ngài ở trong lòng chúng ta, là nhờ Đức Thánh Linh mà Ngài đã ban cho chúng ta.
24O ka mea e malama aku ana i kana mau kauoha, ua noho no ia iloko ona; a ua noho mai no hoi kela iloko ona. Nolaila hoi ke ike nei kakou, ke noho mai nei oia iloko o kakou, ma ka Uhane ana i haawi mai ai no kakou.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.