2พงศ์กษัตริย์ 5
Freedom Bible (Thai)Translation
Freedom Bible (Thai)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1นาอามานผู้บัญชาการกองทัพของกษัตริย์แห่งซีเรียเป็นบุคคลสำคัญและได้รับความนับถือจากนาย เพราะพระยาห์เวห์ทรงให้ซีเรียมีชัยชนะโดยอาศัยเขา เขาเป็นนักรบผู้กล้าหาญด้วย แต่เป็นโรคเรื้อน
1Na-a-man, quan tổng binh của vua Sy-ri, là một người có quyền trước mặt chủ mình, được tôn trọng lắm, bởi vì Đức Giê-hô-va dùng người giải cứu dân Sy-ri; người này vốn mạnh mẽ và bạo dạn, song bị bịnh phung.
2พวกซีเรียเคยออกไปเป็นกองโจร และจับเด็กหญิงตัวเล็กคนหนึ่งมาจากแผ่นดินอิสราเอล นางมารับใช้ภรรยาของนาอามาน
2Vả, có một vài toán dân Sy-ri đi ra bắt một đứa gái nhỏ của xứ Y-sơ-ra-ên làm phu tù, để hầu hạ vợ Na-a-man.
3เด็กหญิงพูดกับนายหญิงว่า “ถ้านายของดิฉันได้ไปพบผู้เผยพระวจนะที่อยู่ในสะมาเรียก็คงดี เขาคงรักษาโรคเรื้อนของนายได้”
3Một ngày kia, nó nói với bà chủ mình rằng: Oâi! Chớ chi chúa tôi đi đến cùng ông tiên tri ở Sa-ma-ri! Người sẽ giải cứu chúa tôi khỏi bịnh phung.
4มีคนไปบอกนายของนาอามานว่า “เด็กหญิงจากแผ่นดินอิสราเอลพูดอย่างนี้”
4Na-a-man đem các lời này thưa lại cho chúa mình, mà rằng: Đứa gái nhỏ ở xứ Y-sơ-ra-ên có nói thể nầy.
5กษัตริย์แห่งซีเรียกล่าวว่า “ไปเถิด ข้าจะส่งจดหมายไปยังกษัตริย์แห่งอิสราเอลด้วย” นาอามานจึงออกเดินทางโดยนำเงินสิบตะลันต์ ทองคำหกพันชิ้น และเสื้อผ้าสำหรับเปลี่ยนสิบชุดไปด้วย
5Vua Sy-ri đáp: Hãy đi, ta sẽ gởi thơ cho vua Y-sơ-ra-ên. Vậy, Na-a-man đi, đem theo mình mười ta lâng bạc, sáu ngàn đồng vàng, và mười bộ áo.
6เขานำจดหมายไปให้กษัตริย์แห่งอิสราเอล มีใจความว่า “เมื่อจดหมายนี้มาถึงท่าน ดูสิ ข้าได้ส่งนาอามานผู้รับใช้ของข้ามาหาท่านเพื่อท่านจะรักษาเขาให้หายจากโรคเรื้อน”
6Người đem bức thơ dâng cho vua Y-sơ-ra-ên; thơ rằng: Khi thơ nầy đạt đến vua, kìa ta đã sai Na-a-man, đầy tớ ta đến cùng vua; vua tiếp được bức thơ nầy ấy để vua giải cứu bịnh phung cho người.
7เมื่อกษัตริย์แห่งอิสราเอลอ่านจดหมายก็ฉีกเสื้อผ้าของตนและกล่าวว่า “ข้าเป็นพระเจ้าที่จะฆ่าและทำให้มีชีวิตหรืออย่างไร ชายคนนี้จึงส่งคนมาให้ข้ารักษาชายคนหนึ่งให้หายจากโรคเรื้อน? ลองพิจารณาดูเถิดว่าเขากำลังหาเรื่องกับข้าอย่างไร”
7Khi vua Y-sơ-ra-ên đọc thơ rồi, liền xé quần áo mình, và nói rằng: Oâng ấy sai người đến cùng ta để ta chữa khỏi bịnh phung cho họ, ta há phải là Đức Chúa Trời, có quyền làm sống làm chết sao? Khá nên biết và xem thấy rằng người tìm dịp để nghịch cùng ta.
8เมื่อเอลีชาคนของพระเจ้าได้ยินว่ากษัตริย์แห่งอิสราเอลฉีกเสื้อผ้า เขาจึงส่งคนไปบอกกษัตริย์ว่า “ทำไมท่านจึงฉีกเสื้อผ้า? ให้ชายคนนั้นมาหาข้าเถิด แล้วเขาจะรู้ว่ามีผู้เผยพระวจนะอยู่ในอิสราเอล”
8Khi Ê-li-sê, người của Đức Chúa Trời, hay rằng vua Y-sơ-ra-ên có xé quần áo mình, thì sai nói với người rằng: Cớ sao vua xé quần áo mình? Na-a-man hãy đến tôi, ắt người sẽ biết rằng trong Y-sơ-ra-ên có tiên tri.
9นาอามานจึงมาพร้อมกับม้าและรถศึกของเขา แล้วหยุดอยู่ที่ประตูบ้านเอลีชา
9Vậy, Na-a-man đến với ngựa và xe dừng tại cửa nhà Ê-li-sê.
10เอลีชาส่งผู้นำสารออกไปบอกเขาว่า “ไปชำระตัวในแม่น้ำจอร์แดนเจ็ดครั้ง แล้วเนื้อของท่านจะกลับเป็นปกติและท่านจะสะอาด”
10Ê-li-sê sai một sứ giả nói với người rằng: Hãy đi tắm mình bảy lần dưới sông Giô-đanh, thịt ngươi tất sẽ trở nên lành, và ngươi sẽ được sạch.
11แต่นาอามานโกรธและจากไป เขาพูดว่า “ดูสิ ข้าคิดว่า ‘เขาคงจะออกมาหาข้า ยืนอยู่ตรงหน้า เรียกพระนามพระยาห์เวห์พระเจ้าของเขา โบกมือเหนือบริเวณที่เป็นโรคแล้วรักษาคนโรคเรื้อนให้หาย’
11Nhưng Na-a-man nổi giận, vừa đi vừa nói rằng: Ta nghĩ rằng chính mình người sẽ đi ra đón ta, đứng gần đó mà cầu khẩn danh Giê-hô-va Đức Chúa Trời của người, lấy tay đưa qua đưa lại trên chỗ bịnh và chữa lành kẻ phung.
12แม่น้ำอาบานาห์และฟารปาร์แห่งดามัสกัสไม่ดีกว่าน้ำทั้งหมดในอิสราเอลหรือ? ข้าจะชำระตัวในแม่น้ำเหล่านั้นแล้วสะอาดไม่ได้หรือ?” เขาจึงหันหลังจากไปด้วยความโกรธจัด
12A-ba-na và Bạt-ba, hai sông ở Đa-mách, há chẳng tốt hơn các nước trong Y-sơ-ra-ên sao? Ta há chẳng tắm đó cho được sạch hay sao? Vậy, người trở đi và giận dữ.
13ผู้รับใช้ของเขาเข้ามาพูดว่า “ท่านพ่อ ถ้าผู้เผยพระวจนะสั่งให้ท่านทำเรื่องยิ่งใหญ่ ท่านคงทำไม่ใช่หรือ? ยิ่งกว่านั้นอีก เมื่อเขาเพียงบอกท่านว่า ‘ชำระตัวแล้วจะสะอาด’”
13Những tôi tớ đến gần người, mà thưa rằng: Cha ơi, nếu tiên tri có truyền cho cha một việc khó, cha há chẳng làm sao? Phương chi rày người bảo cha rằng: “Hãy tắm, thì được sạch.”
14นาอามานจึงลงไปจุ่มตัวในแม่น้ำจอร์แดนเจ็ดครั้งตามคำของคนของพระเจ้า แล้วเนื้อของเขาก็กลับคืนเป็นเหมือนเนื้อของเด็กเล็กและเขาก็สะอาด
14Người bèn xuống sông Giô-đanh, và tắm mình bảy lần, theo như lời truyền của người Đức Chúa Trời. Người liền được sạch, và thịt người trở nên như trước, giống như thịt của một đứa con nít nhỏ.
15จากนั้นนาอามานพร้อมบริวารทั้งหมดกลับมาหาคนของพระเจ้า เขามายืนต่อหน้าเอลีชาและพูดว่า “ดูสิ ตอนนี้ข้ารู้แล้วว่าไม่มีพระเจ้าองค์ใดในทั่วโลกนอกจากในอิสราเอล เพราะฉะนั้นโปรดรับของกำนัลจากผู้รับใช้ของท่านด้วย”
15Na-a-man với hết thảy người đi theo, bèn trở lại cùng người của Đức Chúa Trời; người đến đứng trước mặt Ê-li-sê, mà nói rằng: Bây giờ, tôi nhìn biết rằng trên khắp thế gian chẳng có chúa nào khác hơn Đức Chúa Trời trong Y-sơ-ra-ên. Aáy vậy, tôi xin ông nhậm lễ vật của kẻ tôi tớ ông.
16แต่เอลีชาตอบว่า “ขอสาบานต่อพระยาห์เวห์ผู้ทรงพระชนม์อยู่ผู้ซึ่งข้ายืนอยู่ต่อหน้าพระองค์ว่าข้าจะไม่รับอะไรเลย” นาอามานคะยั้นคะยอให้เขารับ แต่เอลีชาปฏิเสธ
16Nhưng Ê-li-sê đáp rằng: Ta chỉ Đức Giê-hô-va hằng sống, là Đấng ta phục sự mà thề rằng ta chẳng nhậm gì hết. Na-a-man ép nài Ê-li-sê nhậm lấy, nhưng người từ chối.
17นาอามานจึงพูดว่า “ถ้าอย่างนั้นโปรดมอบดินให้ผู้รับใช้ของท่านเท่าที่ล่อสองตัวบรรทุกได้ เพราะต่อแต่นี้ผู้รับใช้ของท่านจะไม่ถวายเครื่องเผาบูชาหรือเครื่องบูชาแก่พระอื่นอีก แต่จะถวายแด่พระยาห์เวห์เท่านั้น
17Na-a-man bèn tiếp rằng: Tuy chẳng nhậm lấy, tôi xin ông cho phép người ta ban cho kẻ tôi tớ ông đủ đất bằng hai con la chở nổi vì từ rày về sau, kẻ tôi tớ ông chẳng muốn dâng của lễ thiêu hay là tế lễ chi cho thần nào khác hơn là Đức Giê-hô-va.
18แต่ขอพระยาห์เวห์ทรงยกโทษผู้รับใช้ของท่านในเรื่องนี้คือ เมื่อนายของข้าเข้าไปในวิหารของริมโมนเพื่อนมัสการที่นั่น และเขาพิงแขนข้า และข้าต้องก้มตัวในวิหารของริมโมน เมื่อข้าก้มตัวในวิหารของริมโมน ขอพระยาห์เวห์ทรงยกโทษผู้รับใช้ของท่านในเรื่องนี้ด้วย”
18Song, nguyện Đức Giê-hô-va tha thứ cho kẻ tôi tớ ông điều này: Mỗi khi chủ tôi vào trong đền thờ Rim-môn đặng thờ lạy, thì chống trên cánh tay tôi, nên tôi cũng phải quì lạy trong đền thờ Rim-môn. Vậy, khi tôi quì lạy trong đền thờ Rim-môn, nguyện Đức Giê-hô-va tha thứ điều đó cho kẻ tôi tớ ông.
19เอลีชาพูดกับเขาว่า “ไปอย่างสงบเถิด” เมื่อนาอามานเดินทางออกไปได้ระยะหนึ่ง
19Ê-li-sê đáp với người rằng: Hãy đi bình yên. Khi Na-a-man đã lìa khỏi Ê-li-sê, đi cách xa xa,
20เกหะซีผู้รับใช้ของเอลีชาคนของพระเจ้าคิดว่า “ดูสิ นายของข้าปล่อยนาอามานชาวซีเรียคนนี้ไปโดยไม่ยอมรับสิ่งที่เขานำมา ขอสาบานต่อพระยาห์เวห์ผู้ทรงพระชนม์อยู่ว่าข้าจะวิ่งตามเขาไปเอาอะไรจากเขาบ้าง”
20thì Ghê-ha-xi, tôi tớ của Ê-li-sê, người của Đức Chúa Trời, nói thầm rằng: Kìa, chủ ta có dong thứ cho Na-a-man, người Sy-ri, không nhậm lễ vật mà người đã đem đến. Ta chỉ Đức Giê-hô-va hằng sống mà thề, ta sẽ chạy theo người và lãnh lấy vật chi nơi người.
21เกหะซีจึงวิ่งตามนาอามานไป เมื่อนาอามานเห็นคนวิ่งตามมาก็ลงจากรถศึกมาพบเขาและถามว่า “ทุกอย่างเรียบร้อยดีหรือ?”
21Vậy, Ghê-ha-xi chạy theo sau Na-a-man. Na-a-man thấy Ghê-ha-xi chạy theo sau mình, bèn nhảy xuống xe, đi đến đón người, và hỏi rằng: Mọi việc đều bình an chớ?
22เกหะซีตอบว่า “เรียบร้อยดี นายของข้าส่งข้ามาบอกว่า ‘ดูสิ เมื่อครู่นี้มีชายหนุ่มสองคนจากเหล่าศิษย์ผู้เผยพระวจนะมาหาข้าจากแถบภูเขาเอฟราอิม โปรดให้เงินหนึ่งตะลันต์ กับเสื้อผ้าสำหรับเปลี่ยนสองชุดแก่พวกเขา’”
22Ghê-ha-xi đáp: Mọi việc đều bình an. Chủ tôi sai tôi nói với ông rằng: Hồi nãy, có hai người trai trẻ, là môn đồ của những tiên tri, ở núi Eùp-ra-im đến; ta xin ông hãy cho hai người ấy một ta lâng bạc, và hai bộ áo.
23นาอามานตอบว่า “โปรดรับสองตะลันต์เถิด” เขาคะยั้นคะยอแล้วผูกเงินสองตะลันต์ไว้ในถุงสองใบ พร้อมเสื้อผ้าสำหรับเปลี่ยนสองชุด มอบให้ผู้รับใช้สองคนของเขาแบกเดินนำหน้าเกหะซี
23Na-a-man nói: Xin hãy nhận lấy hai ta lâng. Người cố nài; đoạn để hai ta lâng bạc và hai bộ áo trong bao, rồi trao cho hai tôi tớ mình đem đi trước mặt Ghê-ha-xi.
24เมื่อเกหะซีมาถึงเนินเขา ก็รับของเหล่านั้นจากมือพวกเขาและเก็บไว้ในบ้านแล้วให้ชายทั้งสองกลับไป
24Lúc đã đến trên gò, Ghê-ha-xi lấy các bao khỏi tay hai đầy tớ, và để trong nhà mình, đoạn cho họ đi trở về.
25จากนั้นเกหะซีเข้าไปยืนต่อหน้านายของตน เอลีชาถามเขาว่า “เกหะซี เจ้าไปไหนมา?” เขาตอบว่า “ผู้รับใช้ของท่านไม่ได้ไปไหนเลย”
25Người bèn ra mắt Ê-li-sê, chủ mình; người hỏi rằng: ù Ghê-ha-xi, ngươi ở đâu đến? Người thưa rằng: Tôi tớ thầy không có đi đâu.
26เอลีชาพูดกับเขาว่า “ใจของข้าตามเจ้าไปด้วยไม่ใช่หรือ เมื่อชายคนนั้นหันกลับจากรถศึกมาพบเจ้า? นี่เป็นเวลาที่จะรับเงิน รับเสื้อผ้า สวนมะกอก สวนองุ่น แกะ โค ผู้รับใช้ชาย และผู้รับใช้หญิงหรือ?
26Nhưng Ê-li-sê tiếp rằng: Khi người kia xuống khỏi xe đặng đi đón ngươi, lòng ta há chẳng ở cùng ngươi sao? Rày há có phải lúc nên nhậm lấy bạc, quần áo, vườn ô-li-ve, vườn nho, chiên và bò, tôi trai tớ gái, sao?
27เพราะฉะนั้นโรคเรื้อนของนาอามานจะติดอยู่กับเจ้าและลูกหลานของเจ้า ตลอดไป” เกหะซีออกจากหน้าเอลีชาไป เป็นโรคเรื้อนขาวราวกับหิมะ
27Vì vậy, bịnh phung của Na-a-man sẽ dính vào ngươi và dòng dõi ngươi đời đời. Ghê-ha-xi đi ra khỏi Ê-li-sê, bị tật phung trắng như tuyết.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.