Ezera 10
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1A PAU ka Ezera pule ana, a me ka uwe ana, a me ka moe ana imua o ka hale o ke Akua, hoakoakoaia ae la io na la he anaina kanaka nui loa o ka Iseraela, na kane, me na wahine a me na kamalii; no ka mea, he nui loa ka uwe o na kanaka.
1Trong lúc E-xơ-ra cầu nguyện như vậy, vừa khóc vừa xưng tội và sấp mình xuống trước đền của Đức Chúa Trời, thì có một đám dân Y-sơ-ra-ên, người nam và nữ rất đông, nhóm hiệp xung quanh người; chúng cũng khóc nứt nở.
2A olelo mai o Sekania ke keiki a Iehiela, no na mamo a Elama, i mai la ia Ezera, Ua hana hewa makou i ke Akua, a ua lawe makou i na wahine e no na kanaka o ka aina: aka ano, he manaolana no iloko o ka Iseraela no keia mea.
2Sê-ca-nia, con trai Giê-hi-ên, cháu của Ê-lam, bèn nói cùng E-xơ-ra rằng: Chúng ta phạm tội với Đức Chúa Trời chúng ta mà cưới những người nữ ngoại thuộc các dân tộc của xứ; nhưng dầu đã làm vậy, hãy còn sự hi vọng cho Y-sơ-ra-ên.
3Ano hoi, e hoohiki kakou i ko kakou Akua e hookuke aku i na wahine a pau, a me na mea a lakou i hanau ai, e like me ke ao ana a kuu haku, a me ka poe e makau ana i ke kauoha a ko kakou Akua; a e hanaia ia mea ma ke kanawai.
3Vậy bây giờ, ta hãy lập giao ước với Đức Chúa Trời chúng ta, đuổi hết thảy những người nữ kia và các con cái của họ đã sanh ra, y như lời chỉ giáo của chúa tôi và của các người có lòng kính sợ điều răn của Đức Chúa Trời chúng ta; khá làm điều ấy theo luật pháp.
4E ku ae oe, no ka mea, ia oe no keia mea: o makou pu kekahi me oe; e ikaika oe, a e hana.
4Oâng hãy đứng dậy, vì việc ầy can hệ đến ông, và chúng tôi sẽ giúp đỡ; khá can đảm mà làm.
5Alaila ku ae la o Ezera, a hoohiki aku la i na kahuna nui, i na Levi, a me ka Iseraela a pau, e hana lakou e like me keia olelo. A hoohiki iho la lakou.
5E-xơ-ra bèn đứng dậy, khiến những thầy tế lễ cả, người Lê-vi, và cả Y-sơ-ra-ên thề rằng mình sẽ làm theo lời ấy. Chúng liền thề.
6Alaila ku ae la o Ezera mai ke alo mai o ka hale o ke Akua, a komo iloko o ke keena o Iehohanana ke keiki a Eliasiba; a hiki aku ia ilaila, aole ia i ai i ka ai, aole hoi i inu i ka wai; no ka mea, uwe iho la ia no ka hewa o ka poe pio i hoi mai.
6Khi E-xơ-ra đã chổi dậy khỏi trước đền Đức Chúa Trời, bèn đi vào phòng của Giô-ha-nan, con trai Ê-li-a-síp; người vào đó không ăn bánh và cũng không uống nước, bởi người lấy làm buồn thảm vì cớ tội lỗi của dân đã bị bắt làm phu tù được trở về.
7A hai aku la lakou ma Iuda, a ma Ierusalema i ka poe pio a pau e honluulu lakou ma Ierusalema;
7Người ta bèn rao truyền khắp xứ Giu-đa và Giê-ru-sa-lem, biểu các dân đã bị bắt làm phu tù được trở về phải nhóm hiệp tại Giê-ru-sa-lem.
8A o na mea a pau i hele ole mai i na la ekolu, e like me ke kauoha a na luna, a me ka poe kahiko, e hoolaaia kona waiwai a pau, a e hookaawaleia oia mai ko anaina kanaka aku o ka poe pio i lawe pio ia aku.
8Trong ba ngày, ai không vâng theo lịnh của các quan trưởng và trưởng lão mà đến, thì các tài sản người ấy sẽ bị tịch-phong, và chính người bị truất ra khỏi hội chúng của dân đã bị bắt làm phu tù được trở về.
9Alaila hoakoakoaia ae la na kanaka a pau o ka Iuda, a o ka Beniamina i Ierusalema i na la ekolu, i ka iwa o ka malama, a i ka la iwakalua o ka malama; a noho iho la na kanaka a pau ma ke ala o ka hale o ke Akua, e haalulu ana no keia mea, a no ka ua nui.
9Trong ba ngày, các người của Giu-đa và Bên-gia-min đều nhóm lại tại Giê-ru-sa-lem, nhằm ngày hai mươi tháng chín; cả dân sự đều ngồi tại phố ở đằng trước đền của Đức Chúa Trời, rúng sợ về việc ấy và về cơn mưa lớn.
10Ku ae la o Ezera ke kahuna, a olelo aku la ia lakou, Ua hana hewa oukou, a ua lawe i na wahine e, e hoomahuahua i ka hala o ka Iseraela.
10Đoạn, E-xơ-ra, thầy tế lễ, đứng dậy, và nói rằng: Các ngươi đã phạm tội, cưới vợ ngoại bang, và thêm nhiều lên tội lỗi của Y-sơ-ra-ên.
11Ano hoi, e hai aku oukou ia Iehova ke Akua o ko oukou poe makua, a e hana i kona makemake; a hookaawale oukou ia oukou iho mai na kanaka o ka aina aku, a mai na wahine e aku.
11Nhưng bây giờ, khá xưng tội lỗi mình cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ các ngươi, và làm đều đẹp ý Ngài: hãy phân cách khỏi các dân tộc của xứ và khỏi những người vợ ngoại bang.
12Alaila olelo mai la ka ahakanaka a pau, i mai la me ka leo nui, E like me kau olelo, pela makou e hana aku ai.
12Cả hội chúng bèn đáp lớn tiếng rằng: Phải, điều ông đã nói, chúng tôi phải làm theo;
13Aka, ua nui na kanaka, a he manawa ua nui, aole e hiki ia makou ke ku mawaho, a o ka hana, aole ia no ka la hookahi, aole no na la elua; no ka mea, ua nui na mea o makou i hana hewa ma keia mea.
13song dân sự đông; và là nhầm mùa mưa, chúng tôi không có thể nào đứng ngoài; lại điều nầy chẳng phải là việc của một hoặc hai ngày, vì trong việc nầy chúng tôi đã phạm tội nhiều lắm.
14Ano hoi, e hoonohoia na luna o ka ahakanaka a pau, a o na mea a pau ma ko kakou mau kulanakauhale i lawe i na wahine e, e hele mai lakou i ka manawa maopopo, a me lakou pu no na lunakahiko o kela kulanakauhale keia kulanakauhale, a me na lunakanawai ona, a e hoohuli ae i ka inaina o ko kakou Akua mai o kakou aku no keia hewa.
14Vậy, xin các quan trưởng chúng tôi hãy đứng ở đó đặng biện lý cho cả hội chúng; phàm ai trong các thành chúng tôi đã cưới lấy vợ ngoại bang, phải đến theo k” nhất định, với các trưởng lão và quan xét của bổn thành, đặng sắp đặt việc này cho đến chừng đã nguôi cơn giận dữ của Đức Chúa Trời chúng tôi.
15O Ionatana wale no, ke keiki a Asahela, a o Iahazia ke keiki a Tikeva i noho no keia mea, a o Mesulama, a me Sabetai ka Levi, i kokua mai ia laua.
15Chỉ Giô-na-than, con trai của A-sa-ên, và Gia-xi-gia, con trai Tiếc-va, phản cải lời định nầy; và Mê-su-lam cùng Sáp-bê-tai, người Lê-vi, đều giúp cho họ.
16A hana aku la pela ka poe pio i hoi mai. A o Ezera ke kahuna, me na kauaka koikoi o na makua, no ka hale o ko lakou mau makua, o lakou a pau ma ko lakou inoa i hookaawaleia, a noho iho la lakou i ka la mua o ka umi o ka malama e hookolokolo ai i keia mea.
16Vậy, những người đã bị bắt làm phu tù được trở về làm theo điều đã nhất định. Người ta chọn E-xơ-ra, thầy tế lễ, và mấy trưởng tộc, tùy theo tông tộc mình, hết thảy đều gọi đích danh. Ngày mồng một tháng mười, chúng ngồi xuống đặng tra xét việc nầy.
17A hoopau lakou me na kanaka a pau i lawe i na wahine e, i ka la akahi o ka malama mua.
17Đến ngày mồng một tháng giêng, chúng đã tra xét xong những người có cưới vợ ngoại bang.
18A ua loaa iwaena o na keiki a na kahuna, na mea i lawe i na wahine e; no na mamo a Iesua ke keiki a Iozadaka, a me kona mau hoahanau, o Maaseia, a o Eliezera, o Iariba, a me Gedalia.
18Trong dòng thầy tế lễ cũng có thấy những người đã cưới vợ ngoại bang. Trong con cháu Giê-sua, chít của Giô-xa-đác, và trong các anh em người có Ma-a-xê-gia, Ê-li-ê-xe, Gia-ríp, và Ghê-đa-lia.
19A haawi mai lakou i ko lakou mau lima e hookuke aku i ka lakou mau wahine; a kaumaha aku lakou i ka hipakane o ka poe hipa i mohaihala no ko lakou lawehala ana.
19Chúng hứa đuổi vợ mình, và dâng một con chiên đực làm của lễ chuộc lỗi mình.
20A no na mamo a Imera; o Hanani, a me Zebadia.
20Trong con cháu Y-mê có Ha-na-ni và Xê-ba-bia.
21A no na mamo a Harima; o Maaseia, o Elia, o Semaia, o Iehiela, a me Uzia.
21Trong con cháu Ha-rim có Ma-a-xê-gia, Ê-li, Sê-ma-gia, Giê-hi-ên, và U-xia.
22A no na mamo a Pasura; o Elioenai, o Maaseia, o Isemaela, o Nataneela, o Iozabada, a me Elasa.
22Trong con cháu Pha-su-rơ có Ê-li-ô-ê-nai, Ma-a-xê-gia, ỗch-ma-ên, Na-tha-na-ên, Giô-xa-bát, và Ê-lê-a-sa.
23A no na Levi; o Iozabada, o Simei, o Kelaia, (oia o Kelita,) o Petahia, o Iuda, a me Eliezera.
23Trong người Lê-vi có Giô-xa-bát, Si-mê-i, Kê-la-gia (cũng gọi là Kê-li-ta), Phê-ta-hia, Giu-đa, và Ê-li-ê-xe.
24A no ka poe mele; o Aliasiba: a no na kiaipuka; o Saluma, o Telema, a me Uri.
24Trong các người ca hát có Ê-li-a-síp; trong những người giữ cửa có Sa-lum, Tê-lem, và U-ri.
25A no ka Iseraela hoi; no na mamo a Parosa; o Ramia, o Iezia, o Malekia, Miamina, o Eleazara, o Malekiia, a me Benaia.
25Trong dân Y-sơ-ra-ên: trong con cháu Pha-rốt có Ra-mia, Y-xia, Manh-ki-gia, Mi-gia-min, Ê-lê-a-sa, Manh-ki-gia, và Bê-na-gia.
26A no na mamo a Elama; o Matania, o Zekaria, o Iehiela, o Abedi, o Ieremota, a me Elia.
26Trong con cháu Ê-lam có Mát-ta-nia, Xa-cha-ri, Giê-hi-ên, Aùp-đi, Giê-rê-mốt, và Ê-li.
27A no na mamo a Zatu; o Elioenai, o Eliasiba, o Matania, o Ieremota, o Zabada, a me Aziza.
27Trong con cháu Xát-tu có Ê-li-ô-ê-nai, Ê-li-a-síp, Mát-ta-nia, Giê-rê-mốt, Xa-bát, và A-xi-xa.
28A no na mamo a Bebai; o Iehohanana, o Hanania, o Zabai, a me Atelai.
28Trong con cháu Bê-bai có Giô-ha-nan, Ha-na-nia, Xáp-bai, và Aùt-lai.
29A no na mamo a Bani; o Mesulama, o Maluka, o Adaia, o Iasuba, o Seala, a me Ramota.
29Trong con cháu Ba-ni có Mê-su-lam, Ma-lúc, A-đa-gia, Gia-sút, Sê-anh, và Ra-mốt.
30A no na mamo a Pahata-moaba; o Adena, o Kelala, o Benaia, o Maaseia, o Matania, o Bezaleela, o Binui, a me Manase.
30Trong con cháu Pha-hát-Mô-áp có Aùt-na, Kê-lanh, Bê-na-gia, Ma-a-xê-gia, Mát-ta-nia, Bết-sa-lê-ên, Bin-nui, và Ma-na-se.
31A no na mamo a Harima; o Eliezera, o Isiia, o Malekia, o Semaia, o Simeona,
31Trong con cháu Ha-rim có Ê-li-ê-se, Di-si-gia, Manh-ki-gia, Sê-ma-gia, Si-mê-ôn,
32O Beniamina, o Maluka, a me Semaria.
32Bên-gia-min, Ma-lúc, và Sê-ma-ri-a.
33A no na mamo a Hasuma; o Matenai, o Matata, o Zabada, o Elipeleta, o Ieremai, o Manase, a me Simei.
33Trong con cháu Ha-sum có Mát-nai, Mát-ta-ta, Xa-bát, Ê-li-phê-lết, Giê-rê-mai, Ma-na-se, và Si-mê-i.
34No na mamo a Bani; o Maadai, o Amerama, a me Uela,
34Trong con cháu Ba-ni có Ma-ê-đai, Am-ram, U-ên,
35O Benaia, o Bedeia, o Kelu,
35Bên-na-gia, Bê-đia, Kê-lu-hu,
36O Vania, o Meremota, o Eliasiba,
36Va-nia, Mê-rê-mốt, Ê-li-a-síp,
37O Matania, o Matenai, a me Iaasau,
37Mát-ta-nia, Mát-tê-nai, Gia-a-sai,
38A o Bani, o Binui, o Simei,
38Ba-ni, Bin-nui, Si-mê-i,
39A o Selemia, o Natana, a me Adaia,
39Sê-lê-mia, Na-than, A-đa-gia,
40O Makenadebai, a Sasai, o Seharai,
40Mác-nát-bai, Sa-sai, Sa-rai,
41O Azareela, o Selemia, o Semaria,
41A-xa-rên, Sê-lê-mia, Sê-ma-ria,
42O Saluma, o Amaria, o Iosepa.
42Sa-lum, A-ma-ria, và Giô-sép.
43No na mamo a Nebo; o Ieiela, o Matitia, o Zabada, o Zebina, o Iadau, o Ioela, o Benaia.
43Trong con cháu Nê-bô có Giê-i-ên, Ma-ti-thia, Xa-bát, Xê-bi-na, Giát-đai, Giô-ên và Bê-na-gia.
44O keia mau mea a pau, ua lawe lakou i na wahine e; a o na wahine a kekahi poe o lakou ua hanau keiki na lakou.
44Hết thảy người ấy đã cưới vợ ngoại bang; và cũng có nhiều người trong bọn ấy có vợ đã sanh đẻ con.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.