Ezera 7
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1MAHOHE iho o keia mau mea, i ka wa i alii ai o Aretasaseta, ke alii o Peresia, o Ezera ke keiki a Seraia, ke keiki a Azaria, ke keiki a Hilekia,
1Sau các việc ấy, nhằm đời Aït-ta-xét-xe, vua Phe-rơ-sơ, có E-xơ-ra, là con trai Sê-ra-gia;
2Ke keiki a Saluma, ke keiki a Zadoka, ke keiki a Ahituba,
2Sê-ra-gia con trai của Hinh-kia, Hinh-kia con trai của Sa-lum, Sa-lum con trai của Xa-đốc, Xa-đốc con trai của A-hi-túp.
3Ke keiki a Amaria, ke keiki a Azaria, ke keiki a Meraiota,
3A-hi-túp con trai của A-ma-ria, A-ma-ria con trai của A-xa-ria, A-xa-ria con trai của Mê-ra-giốt.
4Ke keiki a Zerahia, ke keiki a Uzi, ke keiki a Buki,
4Mê-ra-giốt con trai của Xê-ra-hi-gia, Xê-ra-hi-gia con trai của U-xi,
5Ke keiki a Abisua, ke keiki a Pinehasa, ke keiki a Eleazara, ke keiki a Aarona ke kakuna nui:
5U-xi con trai của Bu-ki, Bu-ki con trai của A-bi-sua, A-bi-sua con trai của Phi-nê-a, Phi-nê-a con trai của Ê-lê-a-sa, Ê-lê-a-sa con trai của A-rôn, là thầy tế lễ thượng phẩm.
6O ua Ezera la, pii aku la ia mai Babulona aku; a he kakauolelo makaukau no ia ma ke kanawai o Mose, ka mea a Iehova ke Akua o ka Iseraela i haawi mai ai; a haawi mai ke alii ia ia i ka mea a pau ana i noi ai, mamuli o ka lima o Iehova o kona Akua maluna ona.
6E-xơ-ra nầy từ Ba-by-lôn đi lên. Người là một văn sĩ thạo luật pháp của Môi-se, mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên đã truyền cho. Vì tay của Đức Giê-hô-va phù trợ người, nên vua ban cho người mọi điều người xin.
7A pii ae la kekahi poe o na mamo a Iseraela, a o na kahuna, a me ua Levi, a me ka poe mele, a me na kiaipuka, a me ka poe Netini, i Ierusalema, i ka hiku o ka makahiki o Aretasaseta ke alii.
7Nhằm năm thứ bảy đời vua Aït-ta-xét-xe, có mấy người trong dân Y-sơ-ra-ên, trong bọn thầy tế lễ, và người Lê-vi, kẻ ca hát, người giữ cửa, và người Nê-thi-min, đều đi cùng người trở lên Giê-ru-sa-lem.
8A hele mai ia i Ierusalema i ka lima o ka malama, oia hoi ka hiku o ka makahiki o ke alii.
8Tháng năm năm thứ bảy đời vua ấy, E-xơ-ra đến thành Giê-ru-sa-lem.
9No ka mea, i ka la mua o ka malama mua kona hoomaka ana e pii mai Babulona aku, a i ka la mua o ka lima o ka malama, hiki aku ia i Ierusalema, mamuli o ka lima o kona Akua maluna ona e pono ai.
9Vả, ngày mồng một tháng giêng, người ở Ba-by-lôn khởi hành; rồi ra nhờ tay nhân lành của Đức Chúa Trời phù trợ, người đến Giê-ru-sa-lem ngày mồng một tháng thứ năm.
10No ka mea, ua hoomakaukau o Ezera i kona naau e imi i ke kanawai o Iehova, a e hana aku hoi, a e ao aku iloko o ka Iseraela i ke kanawai, a me ka olelo kupaa.
10Vì E-xơ-ra đã định chí tra xét luật pháp của Đức Giê-hô-va, giữ làm theo, và dạy cho dân Y-sơ-ra-ên biết những luật pháp và giới mạng.
11Eia ko kope o ka palapala a Aretasaseta ke alii i haawi aku ai ia Ezera ke kahuna, ke kakauolelo, he kakauolelo no na kauoha a Iehova, a me kona mau kanawai i ka Iseraela.
11Nầy là bản sao lại chiếu chỉ mà vua Aït-ta-xét-xe giao cho E-xơ-ra, thầy tế lễ và văn sĩ, thạo biết trong những điều răn luật lệ của Đức Chúa Trời đã truyền cho Y-sơ-ra-ên.
12O Aretasaseta, ke alii o na'lii, ia Ezera ke kahuna, he kakauolelo akamai ma ke kanawai o ke Akua o ka lani, a pela aku no.
12Vua Aït-ta-xét-xe, vua của các vua, gởi thơ cho E-xơ-ra, thầy tế lễ và văn sĩ, thạo biết luật pháp của Đức Chúa trên trời. Nguyện ngươi được trọn bình an.
13Na'u no e kauoha aku, o kela mea keia mea o na kanaka o ka Iseraela, o na kahuna, a me na Levi iloko o ko'u aupuni, i makemake e hele i Ierusalema, e hele no me oe.
13Ta ra chiếu chỉ định rằng phàm người nào trong nước ta, thuộc về dân Y-sơ-ra-ên, thầy cả và người Lê-vi, sẵn muốn đi đến Giê-ru-sa-lem, thì hãy đi chung với người.
14No ka mea, ua hoounaia'ku oe mai ke alo aku o ke alii, a me na kakaolelo ona ehiku, e nana aku i ko Iudea, a me ko Ierusalema, mamuli o ke kanawai o kou Akua ma kou lima;
14Ta và bảy mưu thần ta sai ngươi đi tra xét về Giu-đa và về Giê-ru-sa-lem, chiếu theo luật pháp của Đức Chúa Trời ngươi có trong tay ngươi.
15A e lawe aku hoi i ke kala a me ke gula a ke alii, a me kona mau kakaolelo i mohai aku ai no ke Akua o ka Iseraela, aia ma Ierusalema kona noho ana,
15Ngươi sẽ đem theo mình vàng và bạc mà vua và các mưu thần lạc ý dâng cho Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, có nơi ở tại Giê-ru-sa-lem,
16A o ke kala a pau a me ke gula e loaa ia oe iloko o ka aina o Babulona nei, me na manawalea a na kanaka, a me na kahuna i mohai ai no ka hale o ko lakou Akua ma Ierusalema;
16luôn các bạc và vàng mà ngươi có được trong tỉnh Ba-by-lôn, và những lễ vật lạc ý của dân sự cùng thầy tế lễ dâng cho đền của Đức Chúa Trời mình tại Giê-ru-sa-lem.
17I kuai koke aku ai oe me keia kala i na bipikane, a me na hipakane, a me na keikihipa a me ka lakou mohai ai a me na mohai inu, a kaumaha aku ia lakou maluna o ke kuahu o ka hale o ko oukou Akua ma Ierusalema.
17Ngươi hãy dùng bạc nầy cần mẫn mua những bò đực, chiên đực, chiên con, luôn của lễ chay, và lễ quán cặp theo, rồi dâng lên trên bàn thờ ở nơi đền của Đức Chúa Trời các ngươi, ở tại Giê-ru-sa-lem.
18A o ka pono ia oe, a i kou poe hoahanau, e hana me ke koena o ke kala, a me ke gula, oia ka oukou e hana'i ma ka makemake o ko oukou Akua.
18Còn bạc và vàng dư lại, hễ muốn dùng làm việc gì phải, khá theo ý ngươi và anh em ngươi cho là tốt mà làm thuận ý chỉ của Đức Chúa Trời các ngươi.
19A o na kiaha hoi i haawiia nou no ka hana ma ka hale o kou Akua, oia mau mea kau e hoihoi aku ai imua o ke Akua o Ierusalema.
19Về các khí dụng đã giao cho ngươi để dùng vào cuộc thờ phượng trong đền của Đức Chúa Trời ngươi, hãy để nó tại trước mặt Đức Chúa Trời tại Giê-ru-sa-lem.
20A o na mea e ae i pono ai ka hale o kou Akua, au e manao e haawi aku, e haawi aku no oe noloko mai o ka halewaiwai o ke alii.
20Còn các vật gì khác ngươi cần dùng về chi phí đền thờ của Đức Chúa Trời ngươi, khá lấy các vật ấy nơi kho tàng vua.
21A owau, owau o Aretasaseta ke alii, ke kauoha aku nei i ka poe malama waiwai a pau ma kela aoao o ka muliwai, o na mea a pau a Ezera ke kahuna, ke kakauolelo o ke kanawai o ke Akua o ka lani, e noi aku ai ia oukou, e hana koke ia ia mea;
21Vậy, ta là vua Aït-ta-xét-xe ra chiếu truyền cho các quan cai kho ở bên phía kia sông rằng hễ vật gì E-xơ-ra, thầy tế lễ và văn sĩ, thạo biết luật pháp của Đức Chúa trên trời, sẽ cầu cùng các ngươi, các ngươi khá cần mẫn cung cấp cho,
22A hiki i ka haneri talena kala, a i haneri kora hua palaoa, a i ka haneri bato waina, a i ka haneri bato aila, a me ka paakai aole e hoakakaia.
22đến một trăm ta lâng bạc, một trăm bao lúa miến, một trăm thùng rượu, một trăm thùng dầu, và muối không hạn.
23A o ka mea a pau i kauohaia e ke Akua o ka lani, e hana koke ia ia mea no ka hale o ke Akua o ka lani: no ka mea, no ke aha la e kauia mai ai ka inaina maluna o ke aupuni o ke alii, a me kana poe keiki?
23Phàm điều gì Đức Chúa trên trời truyền dạy về đền thờ của Ngài, khá làm cho cần mẫn, e sự tai họa giáng trên nước, trên vua, và trên các vương tử chăng.
24Ke hoike aku nei no hoi makou ia oukou, no na kahuna a pau, a no na Levi, no ka poe mele, no na kiaipuka, no ka poe Netini, a me ka poe lawelawe ma keia hale o ke Akua, aole he pono ke auhau ia lakou i ka uku, a me ka hookupu, a me ke dute.
24Lại, ta truyền cho các ngươi biết rằng chẳng được phép thâu thuế hay là tiền mãi lộ nơi thầy tế lễ, người Lê-vi, kẻ ca hát, người giữ cửa, người Nê-thi-nim, hay là nơi những tôi tớ đền thờ của Đức Chúa Trời.
25A o oe, e Ezera, ma ka naauao o kou Akua, ka mea ma kou lima, e hoonoho i na luna, a i na lunakanawai, na mea e hooponopono i na kanaka a pau ma kela aoao o ka muliwai, i ua mea a pau i ike i na kanawai o kou Akua, a e ao aku i ka poe ike ole.
25Còn ngươi, hỡi E-xơ-ra, tùy theo sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời ngươi, đã có trong tay ngươi, hãy lập những quan phủ, quan án, là những kẻ thạo biết luật pháp của Đức Chúa Trời ngươi để chúng xét đoán cả dân sự ở bên kia sông; còn người nào chẳng biết luật pháp, các ngươi khá dạy cho nó biết.
26A o ka mea malama ole i ke kanawai o kou Akua, a me ke kanawai o ke alii, e hoopai koke ia'ku oia, ina no ka make, a no ke kipakuia ana, a no ka hao ana o ka waiwai, a no ka hoopaa iloko o ka halepaahao.
26Nếu có ai không tuân luật pháp của Đức Chúa Trời ngươi và luật lệ của vua, thì các ngươi hãy đoán phạt họ liền, hoặc xử tử, hoặc lưu đày, hoặc tịch biên gia tài, hay là cầm tù.
27E hoomaikaiia o Iehova ke Akua o ko kakou poe kupuna, nana i haawi keia manao iloko o ka naau o ke alii, e hoonani i ka hale o Iehova ma Ierusalema;
27E-xơ-ra bèn nói rằng: Đáng ngợi khen thay Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ chúng tôi, vì đã cảm lòng vua toan trang điểm đền thờ của Đức Giê-hô-va tại Giê-ru-sa-lem,
28A i lokomaikai hoi ia'u imua o ke alii, a me kona poe kakaolelo, a me na luna nui o ke alii. A ua hooikaikaia au ma ka lima o Iehova ko'u Akua maluna o'u; a hoakoakoa ae la au i na luna o ka Iseraela, e pii pu me au.
28và khiến cho tôi được ơn trước mặt vua, cùng trước mặt các mưu thần và các quan trưởng có quyền của vua! Vậy, tôi hứng chí, vì tay của Giê-hô-va Đức Chúa Trời tôi phù trợ tôi, và tôi chiêu-tập các trưởng tộc Y-sơ-ra-ên đặng đồng đi lên với tôi.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.