Ezera
Chapter 6
Baibala Hemolele (Hawaii…
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1A LAILA kauoha ae la o Dariu ke alii, imihia ma ka hale o na palapala, kahi i waiho ai na waiwai ilaila ma Babulona.
1Vua Đa-ri-út bèn truyền tra khảo trong tàng thơ viện là nơi chứa các bửu vật tại Ba-by-lôn.
2A loaa iho la, ma Akemeta, ma ka halealii, o ko Media, he palapala, a peneia ka olelo i kakauia'i maloko.
2Người ta tìm được trong đồn ở Eùc-ba-tan tại tỉnh Mê-đi, một cuốn giấy trên đó có di tích như vầy:
3I ka makahiki mua o Kuro ke alii, kauoha ae la o ua Kuro la ke alii no ka hale o ke Akua ma Ierusalema, E hauaia ka hale, kahi i kaumaha aku ai i na mohai, a e hoonohopaaia ke kumu; he kanaono hailima ke kiekie, a he kanaono hailima ka laula;
3Năm thứ nhất đời Si-ru, vua Si-ru ra chiếu chỉ về đền của Đức Chúa Trời tại Giê-ru-sa-lem rằng: Khá xây cất lại đền của Đức Chúa Trời, đặng làm nơi dâng những của lễ; các nền nó phải lập cho vững bền. Đền thờ sẽ sáu mươi thước bề cao, và sáu mươi thước bề dài;
4Pakolu na papapohaku kalai, a e pakahi hoi ka papa laau hou; a e haawiia ka waiwai mai ka hale o ke alii mai:
4nó sẽ có ba hàng đá nguyên khối và một hàng đòn tay gỗ mới; còn tiền sở phí thì phải cấp phát từ trong nhà vua.
5A o na kiaha gula hoi a me ke kala o ka hale o ke Akua, na mea a Nebukaneza i lawe ae mai ka luakini mai ma Ierusalema, a hali mai i Babulona, e hoihoiia'ku, a e haliia aku i ka luakini ma Ierusalema, o kela keia ma kona wahi iho, a e waiho ma ka hale o ke Akua.
5Lại, các khí dụng bằng vàng và bạc của nhà Đức Chúa Trời, mà Nê-bu-cát-nết-sa đã lấy trong đền thờ tại Giê-ru-sa-lem và đem qua Ba-by-lôn, thì phải trả lại, và đem về trong đền thờ tại Giê-ru-sa-lem, khí dụng nầy trong chỗ nấy; ngươi phải để nó tại chỗ cũ trong nhà của Đức Chúa Trời.
6Ano hoi, e Tatenai, ke kiaaina ma kela aoao o ka muliwai, a me Setare bozenai, a me ko laua poe hoalawehana, ka poe Aparesaka, ma kela aoao o ka muliwai, e hookaawaleia oukou mai ia wahi aku.
6Vậy bây giờ, hỡi Tát-tê-nai, tổng đốc của xứ phía bên kia sông, Sê-ta-Bô-xê-nai, và các đồng liêu người ở A-phạt-sác bên kia sông, hãy dan ra;
7E waiho malie oukou i ka hana o keia hale o ke Akua; a o ke alii kiaaina o na Iudaio, a me ka poe kahiko o na Iudaio, e hana lakou i keia hale o ke Akua ma kona wahi.
7khá để cho quan cai của người Giu-đa và những người trưởng lão của chúng xây cất lại đền thờ của Đức Chúa Trời tại nơi cũ nó.
8Eia hoi ka'u o kauoha aku nei i ka mea a oukou e hana aku ai i na lunakahiko o keia poe Iudaio, no ka hana ana i keia hale o ke Akua: noloko mai o ka waiwai o ke alii, oia ka hookupu ma kela aoao o ka muliwai, e haawi koke ia'ku ka waiwai no keia poe kanaka, i keakea ole ia'i lakou.
8Nầy ta ra lịnh, truyền các ngươi phải làm gì đối với các trưởng lão dân Giu-đa, đặng giúp việc cất lại cái đền của Đức Chúa Trời: Hãy lấy thuế khóa thâu ở bên kia sông, vội cấp phát các tiền chi phí cho những người đó, để công việc chẳng bị dứt chừng.
9A o na mea e pono ai lakou, o na keikibipikane, a o na hipakane, a me na keikihipa, no na mohaikuni na ke Akua o ka lani, o ka palaoa, ka paakai, o ka waina, a me ka aila, e like me ke kauoha a na kahuna ma Ierusalema, e haawiia'ku ia na lakou i kela la keia la, aole ka ole:
9Phàm vật chi cần kíp, hoặc bò tơ đực, chiên đực hay là chiên con, để dùng làm của lễ thiêu dâng cho Đức Chúa trên trời; hoặc lúa mì, muối, rượu, hay là dầu, theo lời của những thầy tế lễ ở tại Giê-ru-sa-lem, khá giao cho họ mỗi ngày, chớ thiếu,
10I kaumaha aku ai lakou i na mea ala i ke Akua o ka lani, a i pule aku hoi no ke ola o ke alii, a no kana mau keiki.
10hầu cho họ dâng những của lễ có mùi thơm cho Đức Chúa trên trời, và cầu nguyện cho sanh mạng của vua và của các vương tử.
11A ke kauoha aku nei no hoi au, o kela kanaka keia kanaka e hoololi i keia olelo, e laweia ka laau mai kona hale mai, a kukuluia, e kaaweia oia maluna o ia mea, a e hooliloia kona hale i puu lepo no keia mea.
11Ta cũng truyền lịnh rằng: Nếu ai cải chiếu chỉ nầy, thì khá rút một cây đòn tay trong nhà kẻ ấy, rồi treo nó tại đó. và vì cớ tội ấy, làm cho nhà nó thành ra một chỗ đổ rác.
12A o ke Akua, nana i waiho kona inoa malaila, e luku aku ia i na'lii a pau, a me na kanaka, ke o aku ko lakou lima e hoololi, a e wawahi i keia hale o ke Akua ma Ierusalema. Owau, o Dariu ka i kauoha aku; e hana koke ia hoi oia.
12Nguyện Đức Chúa Trời, là Đấng đã khiến danh Ngài ngự trong đền thờ ấy, hủy diệt vua nào, dân tộc nào dám giơ tay ra cải chiếu này đặng phá hủy đền thờ của Đức Chúa Trời tại Giê-ru-sa-lem. Ta là Đa-ri-út ban chiếu chỉ nầy; khá làm theo nó cách cần mẫn!
13Alaila o Tatenai, ke kiaaina ma keia aoao o ka muliwai, e Setare-bozenai, a me ko laua hoalawehana, e like me ka mea a ke alii i hoouna mai ai, pela lakou i hana koke aku ai.
13Tát-tê-nai, quan tổng đốc của xứ phía bên nầy sông, Sê-ta-Bô-xê-nai và các đồng liêu họ, bèn cần mẫn tuân theo chiếu chỉ mà vua Đa-ri-út đã sai đến.
14A hana aku la na luna kahiko o na Iudaio, a ua pomaikai lakou ma ka wanana a Hagai ke kaula, a me Zakaria ke keiki a Ido. A hana lakou, a hoopaa hoi, e like me ke kauoha a ke Akua o ka Iseraela, a like hoi me ke kauoha a Kuro, a me Dariu, a me Aretasaseta, ke alii o Peresia.
14Aáy vậy, các trưởng lão của dân Giu-đa bắt tay cất lại đền thờ, công việc được may mắn, y lời tiên tri của tiên tri A-ghê, và của Xa-cha-ri, con trai của Y-đô. Vậy, chúng làm xong công việc cất đền thờ, tùy theo mạng lịnh của Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, và theo chiếu chỉ của Si-ru, Đa-ri-út, và Aït-ta-xét-xe, vua nước Phe-rơ-sơ.
15A ua hoopaaia keia hale i ke kolu o ka la o ka malama Adara, oia ke oao o ka makahiki a Dariu ke alii i noho alii ai.
15Ngày thứ ba tháng A-đa, nhằm năm thứ sáu đời vua Đa-ri-út, cái đền nầy được xây cất cho xong.
16A o na mamo a Iseraela, na kahuna, a me na Levi, a me na mea i koe o ka poe i pio, hoolaa aku la lakou i keia hale o ke Akua me ka olioli.
16Dân Y-sơ-ra-ên, những thầy tế lễ, người Lê-vi, và những người khác đã bị bắt làm phu tù được về, đều giữ lễ khánh thành đền thờ của Đức Chúa Trời cách vui mừng.
17A kaumaha aku la no ka hoolaa ana i keia hale o ke Akua, i hookahi haneri bipikane, i elua haneri hipakane, a i eha haneri keikihipa; a i umikumamalua na kaokane i mohaihala no ka Iseraela a pau, e like me na ohana o ka Iseraela.
17Về lễ khánh thành đền thờ nầy, chúng dâng một trăm con bò đực, hai trăm con chiên đực, bốn trăm con chiên con, và tùy theo số các chi phái Y-sơ-ra-ên, chúng dâng mười hai con dê đực làm của lễ chuộc tội cho cả dân Y-sơ-ra-ên.
18A hoonoho iho la lakou i na kahuna ma ko lakou mau papa, a me na Levi ma ko lakou mau papa, no ka oihana o ke Akua ma Ierusalema; e like me ko kauoha ma ka buke a Mose.
18Chúng lập lên những thầy tế lễ và các người Lê-vi tùy theo ban thứ của họ, đặng phục sự Đức Chúa Trời tại Giê-ru-sa-lem, y như đã chép trong sách của Môi-se.
19A malama aku la ka poe i pio i ka moliaola, i ka la umikumamaha o ka malama mua.
19Đoạn, ngày mười bốn tháng giêng, các người đã bị bắt làm phu tù được về, giữ lễ Vượt qua.
20No ka mea, ua huikala pu ia na kahuna, a me na Levi, a ua maemae lakou a pau, a kalua aku la lakou i ka moliaola, no ka poe i pio a pau, a no ko lakou poe hoahanau na kahuna, a no lakou iho.
20Vì những thầy tế lễ và người Lê-vi, cả thảy đã dọn mình cho thanh sạch, không trừ ai; rồi chúng vì hết thảy người đã bị bắt làm phu tù được về, vì những thầy tế lễ, là anh em mình, và vì chính mình, mà giết con sinh dùng về lễ Vượt qua.
21A ai iho la na mamo a Iseraela, ka poe i hoi mai, mai ke pio ana mai, a me ka poe a pau i hookaawale ia lakou iho mai ka mea haumia o na lahuikanaka o ka aina, e imi ia Iehova ke Akua o ka Iseraela;
21Những người Y-sơ-ra-ên đã bị bắt làm phu tù được về, bèn ăn lễ Vượt qua, luôn với những người đã tự chia rẽ ra sự ô uế của các dân tộc trong xứ, đến theo dân Y-sơ-ra-ên, đặng tìm kiếm Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.
22A malama lakou i ka ahaaina berena hu ole i na la ehiku me ka olioli: no ka mea, o Iehova ka i hoohauoli mai ia lakou, a hoohuli mai i ka naau o ke alii o Asuria ia lakou, e hooikaika i ko lakou lima i ka hana ana i ka hale o ke Akua, ke Akua o ka Iseraela.
22Trong bảy ngày chúng giữ lễ bánh không men cách vui vẻ; vì Đức Giê-hô-va đã làm cho lòng chúng được khoái lạc, và có cảm động lòng vua A-si-ri đoái xem chúng, đặng giúp đỡ trong cuộc xây cất đền của Đức Chúa Trời, tức là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.