Ezekiela
Chapter 34
Baibala Hemolele (Hawaii…
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1HIKI mai la ka olelo a Iehova ia'u, i mai la,
1Có lời Đức Giê-hô-va phán cùng ta rằng:
2E ke keiki a ke kanaka, e wanana ku e aku oe i na kahuhipa a ka Iseraela, e wanana hoi, a e olelo aku ia lakou, Ke i mai nei Iehova ka Haku i ua kahuhipa, penei; Auwe na kahuhipa o ka Iseraela, na mea e hanai ana ia lakou iho! aole anei he pono ke hanai na kahuhipa i ka ohana?
2Hỡi con người, hãy nói tiên tri nghịch cùng những kẻ chăn của Y-sơ-ra-ên; hãy nói tiên tri, và bảo những kẻ chăn ấy rằng: Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Khốn nạn cho kẻ chăn của Y-sơ-ra-ên, là kẻ chỉ nuôi mình! Há chẳng phải những kẻ chăn nên cho bầy chiên ăn sao?
3Ke ai nei oukou i ka momona, a ke hoaahu nei oukou ia oukou iho me ka huluhulu, a ua pepehi oukou i na mea kupaluia; aka, aole oukou i hanai i ka ohana.
3Các ngươi ăn mỡ, mặc lông chiên, giết những con chiên mập, mà các ngươi không cho bầy chiên ăn!
4Aole oukou i hooikaika i ka mea nawaliwali, aole hoi oukou i lapaau i ka mea mai, aole hoi oukou i wahi i ka mea hai, aole hoi oukou i hoihoi mai i ka mea i kipakuia'ku, aole hoi oukou i imi i ka mea nalowale; aka, me ka lalau wale, a me ke aloha ole i hoalii ai, oukou maluna o lakou.
4Các ngươi chẳng làm cho những con chiên mắc bịnh nên mạnh, chẳng chữa lành những con đau, chẳng rịt thuốc những con bị thương; chẳng đem những con bị đuổi về, chẳng tìm những con bị lạc mất; song các ngươi lại lấy sự độc dữ gay gắt mà cai trị chúng nó.
5A ua hele liilii lakou no ke kahuhipa ole; a ua lilo lakou i ai na na holoholona a pau o ke kula, i ko lakou hoopuehuia'ku.
5Vì không có kẻ chăn thì chúng nó tan lạc; đã tan lạc thì chúng nó trở nên mồi cho hết thảy loài thú ngoài đồng.
6Ua auwana ka'u mau hipa maluna o na mauna a pau, a maluna hoi o kela puu keia puu kiekie; oia, ua hoopuehuia ko'u ohana ma ka ili o ka honua a pau. aohe mea huli, aohe mea imi aku ia lakou.
6Những chiên ta đi lạc trên mọi núi và mọi đồi cao; những chiên ta tan tác trên cả mặt đất, chẳng có ai kiếm, chẳng có ai tìm.
7Nolaila, e na kahuhipa, e hoolohe i ka olelo a Iehova;
7Vậy nên, hỡi kẻ chăn, hãy nghe lời Đức Giê-hô-va:
8Ma ko'u ola ana, wahi a Iehova ka Haku, oiaio, no ka lilo ana o ka'u ohana i waiwai pio, a no ka lilo ana o ka'u ohana i ai na ua holoholona a pau o ke kula, no ke kahuhipa ole, aole hoi i imi kuu mau kahuhipa i ka'u ohana, aka, ua hanai na kahuhipa ia lakou iho, aole hoi i hanai i ka'u ohana;
8Chúa Giê-hô-va phán rằng: Thật như ta hằng sống, vì tại không có kẻ chăn, nên những chiên ta đã làm mồi, và đã trở nên đồ ăn của mọi loài thú ngoài đồng, những kẻ chăn của ta cũng không tìm kiếm chiên ta, nhưng chúng nó chỉ nuôi mình mà không chăn nuôi chiên ta,
9Nolaila, e na kahuhipa, e hoolohe oukou i ka olelo a Iehova;
9vì cớ đó, hỡi kẻ chăn, hãy nghe lời Đức Giê-hô-va:
10Ke i mai nei Iehova ka Haku, Eia hoi, ke ku o nei au i na kahuhipa; a e kii aku au i ka'u ohana ma ko lakou lima, a e hooki au i ko lakou hanai aua i ka ohana, aole hoi e hanai hou aku na kahuhipa ia lakou iho: no ka mea, e hoopakele au i ka'u ohaua i ko lakou waha, i ole lakou e lilo i ai na lakou.
10Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Nầy, ta nghịch cùng những kẻ chăn đó; ta sẽ đòi lại chiên của ta nơi tay chúng nó; ta không để cho chúng nó chăn chiên của ta nữa, và chúng nó cũng không thể tự chăn nuôi lấy mình nữa; nhưng ta sẽ móc chiên ta ra khỏi miệng chúng nó, hầu cho chiên không làm đồ ăn cho chúng nó.
11No ka mea, ke i mai nei Iehova ka Haku, penei; Eia hoi, owau, e imi no wau i ka'u mau hipa, a huli hoi ia lakou.
11Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Nầy, chính ta, tức là ta, sẽ kiếm chiên ta, ta sẽ tìm nó ra.
12Me ke kahuhipa i imi ai i kana ohana i ka la i noho ai ia iwaena konu o kana poe hipa, i hele liilii; pela e imi aku ai au i ka'u poe hipa, a e hoihoi mai ia lakou, mai loko mai o na wahi a pau i hoopuehuia'i lakou, i ka la paapu i na ao a me ka pouli.
12Ví như kẻ chăn tìm bầy mình ra, trong ngày mà nó ở giữa những chiên mình bị tan lạc, thì ta cũng sẽ tìm chiên ta ra như vậy: ta sẽ cứu chúng nó ra khỏi mọi nơi mà chúng nó đã bị tan lạc trong ngày mây mù tăm tối.
13A e lawe mai au ia lakou mai na lahuikanaka mai, a e houluulu ia lakou ma na aina mai, a e lawe mai ia lakou i ko lakou aina iho, a e hanai au ia lakou maluna o na mauna o ka Iseraela, ma na muliwai hoi a ma na wahi i nohoia a pau o ka aina.
13Ta sẽ đem chúng nó ra khỏi giữa các dân; ta sẽ nhóm chúng nó lại từ các nước, và đem chúng nó về trong đất riêng chúng nó. Ta sẽ chăn chúng nó trên các núi của Y-sơ-ra-ên, kề khe nước, và trong mọi nơi có dân cư trong nước.
14Ma ka aina maikai e hanai aku ai au ia lakou, a maluna o na mauna kiekie o ka Iseraela auanei ko lakou pa; malaila lakou e moe ai iloko o ka pahipa maikai, a ma ka aina momona e ai ai lakou maluna o na mauna o ka Iseraela.
14Ta sẽ chăn chúng nó trong những đồng cỏ tốt, và chuồng chúng nó sẽ ở trên các núi nơi đất cao của Y-sơ-ra-ên; ở đó chúng nó sẽ nghỉ trong chuồng tử tế, và ăn cỏ trong đồng cỏ màu mỡ, tức là trên các núi của Y-sơ-ra-ên.
15E hanai aku au i ka'u ohana, a e hoomoe iho au ia lakou ilalo, wahi a Iehova ka Haku.
15Aáy chính ta sẽ chăn chiên ta và cho chúng nó nằm nghỉ, Chúa Giê-hô-va phán vậy.
16E imi aku au i ka mea i nalowale, a e hoihoi mai i ka mea i kipakuia'ku, a e wahi aku au i ka mea i hai, a e hooikaika au i ka ka, mea mai; aka, e luku au i ka mea momona a me ka ikaika, a e hanai aku au ia lakou me ka hoopai ana.
16Ta sẽ tìm con nào đã mất, dắt về con nào đã bị đuổi, rịt thuốc cho con nào bị gãy, và làm cho con nào đau được mạnh. Nhưng ta sẽ hủy diệt những con mập và mạnh. Ta sẽ dùng sự công bình mà chăn chúng nó.
17A o oukou, e ka'u ohana, wahi a Iehova ka Haku, ke hooponopouo nei au iwaena o ka holoholona a me ka holoholona, mawaena hoi o na hipa kane, a me na kao kane.
17Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Còn như bay, hỡi bầy chiên ta, nầy, ta xét đoán giữa chiên và chiên, giữa chiên đực và dê đực.
18Ho mea uuku anei ia oukou, ka oukou ai ana i ka ai maikai, a ua hehi iho oukou i ke koena o ka oukou ai me ko oukou mau wawae? a o ko oukou inu ana i ka wai maikai, a hoolepo hoi i ke koena me ko oukou mau wawae?
18Bay ăn trong vườn cỏ xinh tốt, mà lại lấy chân giày đạp những cỏ còn lại; đã uống những nước trong, lại lấy chân vậy đục nước còn thừa; bay há chẳng coi sự đó là việc nhỏ mọn sao?
19A o ka'u ohana, ua ai lakou i ka mea a oukou i hehi ai me ko oukou mau wawae; a ua inu lakou i ka mea a oukou i hoolepo ai me ko oukou mau wawae.
19Còn những chiên ta thì phải ăn cỏ chân bay đã giày đạp, và uống nước chân bay đã vấy đục!
20Nolaila ke i mai nei Iehova ka Haku ia lakou, Aia hoi, e hooponopono aku au iwaena o na hipa momona a me na hipa wiwi.
20Vậy nên, Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Nầy, ta, chính ta, sẽ xét đoán giữa những chiên mập và chiên gầy.
21No ka mea, ua hooke aku oukou me ka aoao a me ka pohiwi, a ua hou oukou me ko oukou mau pepeiaohao i na mea mai, a hoopuehu aku oukou ia lakou.
21Vì bay lấy hông lấy vai mà xốc, lấy sừng mà vích mọi chiên con có bịnh, cho đến chừng bay đã làm tan lạc chúng nó ra ngoài,
22Nolaila, e hoola au i ka'u ohaua, aole loa aku lakou he waiwai pio; a e hooponopono hoi au iwaena o ka hipa a me ka hipa.
22nên ta sẽ đến cứu bầy chiên ta, chúng nó sẽ không làm mồi nữa, và ta sẽ xét đoán giữa chiên và chiên.
23A e hoonoho aku au i ke kahuhipa hookahi maluna o lakou, a e hanai oia ia lakou, o ka'u kauwa, o Davida, e hanai oia ia lakou, a oia auanei ko Iakou kahuhipa.
23Ta sẽ lập trên chúng nó chỉ một kẻ chăn, người sẽ chăn chúng nó, tức là Đa-vít, tôi tớ ta. Aáy là người sẽ chăn chúng nó, người sẽ làm kẻ chăn chúng nó.
24A owau, o Iehova auanei ke Akua no lakou, a o ka'u kauwa o Davida ke alii iwaena o lakou; na'u na Iehova i olelo aku.
24Ta, Đức Giê-hô-va, sẽ làm Đức Chúa Trời chúng nó, còn Đa-vít, tôi tớ ta, sẽ làm vua giữa chúng nó. Ta, Đức Giê-hô-va, đã phán vậy.
25A e hana au i berita hoomalu me lakou, a e hooki aku au i na holoholona ino mai loko aku o ka aina; a e noho maluhia lakou ma ka waonahele, a e moe hoi maloko o na ululaau.
25Bấy giờ ta sẽ kết với chiên ta một giao ước hòa bình. Ta sẽ làm cho những thú dữ trong đất dứt đi, đặng dân ta có thể ở yên ổn trong đồng vắng và ngủ trong rừng.
26A e hoolilo au ia lakou, a me na wahi e hoopuni ana i kuu puu e hoomaikai ana; a e hoohaule au i ka ua i kona manawa, a he mau ua auanei o ka hoomaikai ana.
26Ta sẽ làm cho chúng nó với các miền chung quanh đồi ta nên nguồn phước. Ta sẽ khiến mưa sa nơi mùa thuận tiện, ấy sẽ là cơn mưa của phước lành.
27A e hoohua mai ka laau o ke kula i koua hua, a e haawi mai ka honua i kona mea ulu, a e noho maluhia lakou ma ko lakou aina, a e ike hoi owau no Iehova, aia moku ia'u ua kaula o ka lakou auamo, a hoopakele ae ia lakou mai loko ae o ka lima o ka poe i hookauwa ia lakou na lakou iho.
27Cây ngoài đồng sẽ ra trái, và đất sẽ sanh hoa lợi. Chúng nó sẽ ở yên trong đất mình, và sẽ biết ta là Đức Giê-hô-va, khi ta đã bẻ gãy những đòn của ách chúng nó, và đã giải cứu chúng nó ra khỏi tay những kẻ bắt chúng nó phục dịch.
28Aole loa aku lakou he waiwai pio no na lahuikanaka, aole hoi e ai na holoholona o ka aina ia lakou; aka, e noho maluhia lakou, aohe mea nana lakou e hooweliweli.
28Chúng nó sẽ chẳng làm mồi của các dân ngoại nữa; những loài thú của đất sẽ chẳng nuốt chúng nó nữa; chúng nó sẽ ở yên ổn, chẳng ai làm cho sợ hãi.
29E hooku ae au iluna i ka mea kanu i kaulana no lakou, aole no hoi lakou e pau e i ka pololi ma ka aina, aole e hilahila hou i ka hoinoia e na lahuikanaka.
29Ta sẽ sắm vườn có danh tiếng cho chúng nó, chúng nó sẽ không chết đói trong đất mình nữa, và cũng không còn chịu sự hổ nhuốc của các nước nữa.
30Pela e ike ai lakou owau o Iehova ko lakou Akua kekahi pu me lakou, a o lakou, o ka ohana a Iseraela, ko'u poe kanaka, wahi a Iehova ka Haku.
30Chúng nó sẽ biết ta, Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời chúng nó, ở cùng chúng nó, và biết nhà Y-sơ-ra-ên chúng nó là dân ta, Chúa Giê-hô-va phán vậy.
31A o oukou, kuu ohana, ka okana o kuu aina, he poe kanaka; a owau ko oukou Akua, wahi a Iehova ka Haku.
31Bay là chiên của ta, là chiên của đồng cỏ ta; bay là loài người, và ta là Đức Chúa Trời bay, Chúa Giê-hô-va phán vậy.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.