Epeso 4
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1NO ia mea, owau ka paahao no ka Haku, ke nonoi aku nei ia oukou, e hele oukou ma ka mea e ku i ke koho ana a oukou i kohoia mai ai.
1Vậy, tôi là kẻ tù trong Chúa, khuyên anh em phải ăn ở một cách xứng đáng với chức phận mà Chúa đã gọi anh em,
2Me ka haahaa nui o ka naau, a me ke akahai, a me ka hoomanawanui hoi, a e ahonui aku kekahi i kekahi me ke aloha.
2phải khiêm nhường đến điều, mềm mại đến điều, phải nhịn nhục, lấy lòng thương yêu mà chìu nhau,
3E hooikaika oukou e hoomau i ka lokahi ana o ka manao, ma ke apo o ke kuikabi.
3dùng dây hòa bình mà giữ gìn sự hiệp một của Thánh Linh.
4Hookahi no kino, hookahi hoi Uhane, e like me ka oukou i kohoia mai ai i ka manaolana hookahi o ko oukou kohoia ana:
4Chỉ có một thân thể, một Thánh Linh, như anh em bởi chức phận mình đã được gọi đến một sự trông cậy mà thôi;
5Hookahi no Haku, hookahi manaoio, hookahi bapetizo ana;
5chỉ có một Chúa, một đức tin, một phép báp tem;
6Hookahi hoi Akua, ka Makua o na mea a pau, oia maluna o na mea a pau, ma na mea a pau a iloko hoi o kakou a pau.
6chỉ có một Đức Chúa Trời và một Cha của mọi người, Ngài là trên cả mọi người, giữa mọi người và ở trong mọi người.
7Ua haawiia mai hoi ka lokomaikai ia kakou a pau, e like me ke ana a Kristo i haawi mai ai.
7Nhưng, đã ban ân điển cho mỗi một người trong chúng ta theo lượng sự ban cho của Đấng Christ.
8Nolaila, i olelo mai ai oia, I kona pii ana iluna, ua kai pio ia i ka poe i pio, a haawi mai la hoi i na haawina i kanaka.
8Vậy nên có chép rằng: Ngài đã lên nơi cao, dẫn muôn vàn kẻ phu tù, Và ban các ơn cho loài người.
9(A o keia, Ua pii aku la ia iluna heaha anei ia mea, i ole kela i iho ae mamua i na wahi malalo ae o ka honua?
9Vả, những chữ “Ngài đã lên” có nghĩa gì, há chẳng phải là Ngài cũng đã xuống trong các miền thấp ở dưới đất sao?
10O ka mea i iho ae ilalo, oia no ka mea i pii aku maluna ae o ka lani kiekie loa, i hoopiha ai oia i na mea a pau.)
10Đấng đã xuống tức là Đấng đã lên trên hết các từng trời, để làm cho đầy dẫy mọi sự.
11Ua hoolilo iho la oia i kekahi poe i lunaolelo; a i kekahi poe i kaula; a i kekahi poe i kahuna hai olelo; a i kekahi poe i kahu ekalesia a me na kumu;
11Aáy chính Ngài đã cho người nầy làm sứ đồ, kẻ kia làm tiên tri, người khác làm thầy giảng Tin Lành, kẻ khác nữa làm mục sư và giáo sư,
12I mea e hooponopono ai i na haipule no ka oihana kahuna, a no ke kukulu paa ana i ke kino o Kristo:
12để các thánh đồ được trọn vẹn về công việc của chức dịch và sự gây dựng thân thể Đấng Christ,
13A hiki aku kakou a pau i ka lokahi ana o ka manaoio, a me ka ike aku i ke Keiki a ke Akua, a lilo i kanaka makua, i poe naauao loa ma na mea o Kristo:
13cho đến chừng chúng ta thảy đều hiệp một trong đức tin và trong sự hiểu biết Con Đức Chúa Trời, mà nên bậc thành nhân, được tầm thước vóc giạc trọn vẹn của Đấng Christ.
14I kamalii ole ai kakou ma ia hope aku i ka alealeia a me ka lauwiliia e na makani a pau o ka olelo, ma ka apiki a kanaka, a me ka maalea a lakou e imi ai i ka hoopunipuni;
14Ngài muốn chúng ta không như trẻ con nữa, bị người ta lừa đảo, bị mưu chước dỗ dành làm cho lầm lạc, mà day động và dời đổi theo chiều gió của đạo lạc,
15Aka, e olelo oiaio aku ana me ke aleha, i nui ae kakou i na mea a pau iloko ona, oia o Kristo o ke poo.
15nhưng muốn cho chúng ta lấy lòng yêu thương nói ra lẽ chân thật, để trong mọi việc chúng ta đều được thêm lên trong Đấng làm đầu, tức là Đấng Christ.
16Ua kapili pono ia ke kino a pau e ia a paa i ke kokuaia mai e na ami a pau, ua hoonui ae la oia i ke kino e like me ke ano o ka ikaika o kela lala o keia lala, no ke kukulu paa ana ia ia iho ma ke aloha.
16Aáy nhờ Ngài mà cả thân thể ràng buộc vững bền bởi những cái lắt léo, khiến các phần giao thông với nhau, tùy lượng sức mạnh của từng phần, làm cho thân thể lớn lên, và tự gây dựng trong sự yêu thương.
17O keia hoi ka'u e olelo aku nei, a hoike aku hoi ma ka I Haku, mai haele hou oukou e like me na lahuikauaka e ma ka lapuwale o ko lakou naau:
17Vậy, nầy là điều tôi nói và điều tôi nhân danh Chúa mà rao ra: ấy là anh em chớ nên ăn ở như người ngoại đạo nữa, họ theo sự hư không của ý tưởng mình,
18Ua poeleele ko lakou manao ana, ua mamao loa mai ke ola aku o ke Akua, uo ka naaupo iloko o lakou, a me ka paakiki o ko lakou naau:
18bởi sự ngu muội ở trong họ, và vì lòng họ cứng cỏi nên trí khôn tối tăm, xa cách sự sống của Đức Chúa Trời.
19A no ko lakou makau ole, ua hoolilo ia lakou iho i ka makaleho, e hana aku ai i ka haumia a pau me ka makermake.
19Họ đã mất cả sự cảm biết, đành bỏ mình trong một đời buông lung, đem lòng mê đắm không biết chán mà phạm hết mọi điều ô uế.
20Aka, aole pela ka oukou i ao aku ai i ka Kristo:
20Nhưng anh em học cho biết Đấng Christ thì chẳng phải như vậy,
21Ina paha i lohe oukou i kana, i aoia hoi oukou e ia, e like me ka oiaio iloko o Iesu:
21vì anh em đã nghe đạo Ngài, và được dạy dỗ trong Ngài (y theo lẽ thật trong Đức Chúa Jêsus)
22A no ka noho ana mamna, e haalele aku oukou i ke kanaka kahiko i haumia i na kuko hewa hoopunipuni:
22rằng anh em phải bỏ cách ăn nết ở ngày trước, thoát lốt người cũ là người bị hư hỏng bởi tư dục dỗ dành,
23E hoano hou ia hoi oukou ma ka mauao ana o ko oukou naau;
23mà phải làm nên mới trong tâm chí mình,
24E hoaahu iho hoi oukou i ke kanaka hou, i hanaia mamuli o ke Akua ma ka pono a me ka hemolele io.
24và mặc lấy người mới, tức là người đã được dựng nên giống như Đức Chúa Trời, trong sự công bình và sự thánh sạch của lẽ thật.
25Nolaila, e haalele oukou i ka wahahee, e olelo oiaio aku hoi kela mea keia mea a pau i kona hoalauna; no ka mea he mau lala kakou o kekahi me kekahi.
25Như vậy, mỗi người trong anh em phải chừa sự nói dối, hãy nói thật với kẻ lân cận mình, vì chúng ta làm chi thể cho nhau.
26A i huhu oukou, e ao o hewa auanei: mai hoomau i ko oukou inaina a napoo ka la.
26Ví bằng anh em đang cơn giận, thì chớ phạm tội; chớ căm giận cho đến khi mặt trời lặn,
27Aole hoi e haawi aku oukou i kauwahi no ka diabolo.
27và đừng cho ma quỉ nhân dịp.
28O ka mea i aihue, mai aihue hou aku ia: aka hoi, e hana ia, e hooikaika ana me na lima i ka mea maikai, i loaa'i ia ia ka mea e haawi aku na ka mea nele.
28Kẻ vốn hay trộm cắp chớ trộm cắp nữa; nhưng thà chịu khó, chính tay mình làm nghề lương thiện, đặng có vật chi giúp cho kẻ thiếu thốn thì hơn.
29Mai hoopuka ae oukou i ka olelo ino mai loko mai o ko oukou waha; aka, o ka olelomaikai no ke ku paa ana, hooluolu aku ai ia i ka poe lohe.
29chớ có một lời dữ nào ra từ miệng anh em; nhưng khi đáng nói hãy nói một vài lời lành giúp ơn cho và có ích lợi cho kẻ nghe đến.
30Mai hooeha hoi i ka Uhane Hemolele o ke Akua, nana oukou i hoailona mai no ka la e hoolaia mai ai.
30Anh em chớ làm buồn cho Đức Thánh Linh của Đức Chúa Trời, vì nhờ Ngài anh em được ấn chứng đến ngày cứu chuộc.
31E hookaawaleia na mea awaawa a pau mai o oukou aku, a me ka inaina, ka huhu, ka uwa, ka olelo ino, a me ka manao ino a pau.
31Phải bỏ khỏi anh em những sự cay đắng, buồn giận, tức mình, kêu rêu, mắng nhiếc, cùng mọi điều hung ác.
32E lokomaikai oukou i kekahi e kekahi, e aloha aku me ka naau, e kala ana hoi kekahi i kekahi, e like me ka ke Akua i kala mai ai i ko oukou ma o Kristo la.
32Hãy ở với nhau cách nhân từ, đầy dẫy lòng thương xót, tha thứ nhau như Đức Chúa Trời đã tha thứ anh em trong Đấng Christ vậy.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.