Lokphong 19
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Hae hmuennawk oh pacoengah, Halleluia! Pahlonghaih, lensawkhaih, pakoehhaih hoi thacakhaih loe aicae Angraeng Sithaw khaeah om nasoe, tiah pop parai kaminawk mah van ah thuih ih lok to ka thaih:
1Sự đó đoạn, tôi nghe ở trên trời như có tiếng lớn của lũ đông lắm rằng: A-lê-lu-gia! Sự cứu chuộc, vinh hiển, quyền phép đều thuộc về Đức Chúa Trời chúng ta.
2A lokcaekhaih loe toeng moe, loktang ah oh: nongpa nongpata zae sakhaih hoiah long amrosakkung, tangzat zaw nongpata to Sithaw mah lokcaek; Sithaw mah a tamnanawk ih athii tho to nongpata nuiah lu lak boeh.
2Vì những sự phán xét của Ngài đều chân thật và công bình: Ngài đã đoán phạt đại dâm phụ nó lấy đều dâm loạn làm hư hỏng thế gian, và Ngài đã báo thù huyết của các tôi tớ Ngài đã bị tay con dâm phụ đó làm đổ ra.
3To pacoengah nihcae mah, Halleluia! Anih ih hmaikhue loe dungzan hoi dungzan khoek to khue tahang poe boeh, tiah thuih o.
3Chúng lại nói một lần thứ hai rằng: A-lê-lu-gia! Luồng khói nó bay lên đời đời.
4Saning coeh pumphae palito kaminawk hoi kahing sak ih hmuen palitonawk loe cangkrawn o moe, angraeng tangkhang nuiah anghnu Sithaw to bok o, Amen! Halleluia, tiah thuih o.
4Hai mươi bốn trưởng lão cùng bốn con sanh vật bèn mọp xuống thờ lạy Đức Chúa Trời, là Đấng ngồi trên ngôi, mà rằng: A-men, A-lê-lu-gia!
5To pacoengah Anih zithaih tawn kami, kathoeng kalen a tamnanawk boih, aicae ih Sithaw to pakoeh oh, tiah angraeng tangkhang hoiah lok to tacawt.
5Lại có tiếng từ ngôi đến rằng: Hết thảy các ngươi là tôi tớ Đức Chúa Trời chúng ta, vẫn kính sợ Ngài, nhỏ hay lớn, đều hãy ngợi khen Ngài!
6To pacoengah thuilaek ai kanoih kaminawk ih lok baktih, pop parai tui tuen baktih, thacak khopazih tuen baktiah, Halleluia! Vaihi loe Thacak aicae Angraeng Sithaw mah uk boeh!
6Đoạn, tôi lại nghe có tiếng như một đám đông vô số người, khác nào tiếng nước lớn hoặc như tiếng sấm dữ, mà rằng: A-lê-lu-gia! Vì Chúa là Đức Chúa Trời chúng ta, là Đấng Toàn năng, đã cầm quyền cai trị.
7To pongah oep oh loe, anghoe oh, Anih to pakoeh o si: Tuucaa zu paluemhaih loe phak boeh, A zu doeh amsakcoek boeh, tiah thuih ih lok to ka thaih.
7Chúng ta hãy hớn hở vui mừng, tôn vinh Ngài; vì lễ cưới Chiên Con đã tới, và vợ Ngài đã sửa soạn,
8Angkhuk hanah kahoih kahni, kacai pin rong kanglung to anih han paek boeh: kahoih kahni loe kaciim kaminawk toenghaih to hnuksak.
8đã cho người được mặc áo sáng láng tinh sạch bằng vải gai mịn (vải gai mịn tức là công việc công bình của các thánh đồ).
9To pacoengah vankami mah kai khaeah, Tarik ah, Tuucaa zu paluemhaih poihkung ah kawk ih kaminawk loe tahamhoih o, tiah ang naa. To pacoengah anih mah kai khaeah, Hae loe Sithaw mah thuih ih tangtang lok ah oh, tiah ang naa.
9Thiên sứ phán cùng tôi rằng: Hãy chép: Phước thay cho những kẻ được mời đến dự tiệc cưới Chiên Con! Người lại tiếp rằng: Đó là những lời chân thật của Đức Chúa Trời.
10To naah anih to bok hanah a khokkung ah ka cangkrawn. Toe vankami mah kai khaeah, To tiah sah hmah; kai loe nang hoi nawnto toksah tamna ah ni ka oh, Jesu tamthanglok taphong nam nawkamyanawk hoi nawnto toksah tamna ni: Sithaw to bok ah: Jesu ih tamthanglok thuihaih loe Muithla hoiah taphong ih lok ah ni oh, tiah ang naa.
10Tôi bèn gieo mình xuống dưới chân người đặng thờ lạy; song người phán rằng: Hãy giữ lấy, đừng làm vậy; ta là bạn tôi tớ với ngươi và với anh em ngươi là người cùng giữ lời chứng của Đức Chúa Jêsus. Ngươi hãy thờ lạy Đức Chúa Trời. Vì sự làm chứng cho Đức Chúa Jêsus là đại ý của lời tiên tri.
11Ka khet naah van to amongh moe, hrang kanglung maeto ka hnuk. To hrang angthueng kami to Oep kathok, Loktang, tiah kawk o, Anih loe katoeng ah lokcaek moe, katoeng ah misa to tuk.
11Bấy giờ tôi thấy trời mở ra, và có một con ngựa bạch hiện ra: Đấng cỡi ngựa ấy gọi là Đấng Trung Tín Và Chân Thật; Ngài lấy lẽ công bình mà xét đoán và chiến đấu.
12A mik loe hmaipalai baktiah oh, a lu nuiah pop parai angraeng lumuek to oh. Anih khue mah panoek moe, mi mah doeh panoek ai ih ahmin to Angmah nuiah tarik.
12Mắt Ngài như ngọn lửa; trên đầu có nhiều mão triều thiên, lại có đề một danh, ngoài Ngài ra không ai biết được.
13Anih loe athii thungah nup ih kahni to angkhuk: anih ih ahmin loe Sithaw Lok, tiah sak o.
13Ngài mặc áo nhúng trong huyết, danh Ngài xưng là Lời Đức Chúa Trời.
14Hrang kanglung nuiah anghnu van misatuh kaminawk loe kahni kahoih, kacai pin kahni kanglung to angkhuk o moe, Anih hnukah bang o.
14Các đạo binh trên trời đều mặc vải gai mịn, trắng và sạch, cỡi ngựa bạch theo Ngài.
15Prae kaminawk to takroek hanah, Anih ih pakha thung hoiah kanoe sumsen to tacawt: Anih mah nihcae to sumboeng hoiah uk tih: Anih mah loe zit kathok Thacak Sithaw palungphuihaih hoiah misurtui pasawhhaih akhaw to cawh tih.
15Có một lưỡi gươm bén ở miệng Ngài ra, Ngài sẽ lấy nó mà đánh các dân, và cai trị họ bằng một cây gậy sắt. Ngài giày đạp thùng rượu cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời toàn năng.
16Kahni hoi anih ih phaih nuiah loe ANGRAENGNAWK IH ANGRAENG, SIANGPAHRANGNAWK IH SIANGPAHRANG, tiah tarik ih oh.
16Trên áo tơi và trên đùi Ngài, có đề một danh là Vua Của Các Vua Và Chúa Của Các Chúa.
17Ni nuiah angdoe vankami maeto ka hnuk; anih mah, Van um ah kazawk tavanawk boih khaeah, Angzo oh loe, Lensawk Sithaw buhcaakhaih poihkung ah,
17Tôi thấy một vị thiên sứ đứng trong mặt trời. Người cất tiếng lớn kêu các chim chóc bay giữa không của trời, mà rằng: Hãy đến, bay hãy nhóm hiệp lại để dự tiệc lớn của Đức Chúa Trời,
18siangpahrangnawk ih ngan, misatuh kaminawk ih ngan, thacak kaminawk ih ngan, hrangnawk ih ngan, hrang angthueng kaminawk ih ngan, kaminawk boih ih ngan, kaloih kami, misong, kathoeng, kalen kaminawk ih ngan to caak hanah amkhueng oh, tiah tha hoiah hang.
18hãy đến ăn thịt các vua, thịt các tướng, thịt các dũng sĩ, thịt ngựa cùng kẻ cỡi ngựa, và thịt của mọi người, tự chủ và tôi mọi, nhỏ và lớn.
19Hrang kangthueng Anih hoi Anih ih misatuh kaminawk to tuk hanah nawnto kamkhueng, moi kasan, long siangpahrangnawk hoi anih ih misatuh kaminawk doeh ka hnuk.
19Tôi lại thấy con thú và các vua thế gian cùng những quân đội mình nhóm lại đặng tranh chiến với Đấng cỡi ngựa, và với đạo binh của Ngài.
20To pacoengah moi kasan hoi anih hmaa ah dawnrai hmuennawk kasah, kamro tahmaa to naeh o. To kamro tahmaa mah moi kasan ih catui kangdaeng kaminawk hoi anih ih krang bok kaminawk to aling. Nihnik to kaat hmai hoi kangqong hmai tuili thungah kahing ah vah o.
20Nhưng con thú bị bắt và tiên tri giả là kẻ đã làm phép lạ trước mặt con thú, nhờ đó lừa dối những người đã nhận dấu hiệu con thú cùng thờ lạy hình tượng nó, cùng bị bắt với nó nữa; cả hai đều đang sống bị quăng xuống hồ có lửa và diêm cháy bừng bừng.
21Kanghmat kaminawk loe hrang nui kangthueng kami ih pakha thung hoi tacawt sumsen hoiah hum o: tavaanawk boih mah nihcae ih ngan to zok kamhah ah caak o.
21Những kẻ khác đều bị giết bởi lưỡi gươm ra từ miệng Đấng cỡi ngựa, và hết thảy chim chóc đều được ăn thịt chúng nó no nê.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.